Tác giả: Kenneth D. Whitehead
Người dịch: Phaolô Phạm Xuân Khôi
Ngày nay học thuật Thánh Kinh thường được coi là đáng tin cậy tức thì vì được coi là “khoa học”. Vì thế, các khám phá của nhóm Jesus Seminar, dù thiếu căn bản thế nào đi nữa, cũng mau trở thành các tin hàng đầu. Điều giả định là “khoa học” đã một lần nữa làm nổ tung các xác quyết về Chúa Giêsu được tìm thấy trong Tân Ước và được Hội Thánh rao giảng.
Mặt khác, đức tin của Hội Thánh, được truyền lại trong Hội Thánh từ các Tông Đồ của Chúa Giêsu, không được định nghĩa là có tính khoa học theo nghĩa hiện đại. Do đó, nó không được coi là có địa vị tương tự trong thế giới ngày nay. Tuy nhiên, Hội Thánh biết rằng “Chúa Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi” (1 Tim 1:15); do đó, vẫn tiếp tục rao giảng lời Chúa Giêsu vừa là lời của Người và lời chân thật, bất chấp các khám phá giả định của các nhóm như Jesus Seminar. Không phải là Hội Thánh không tôn trọng học thuật, nhưng Hội Thánh có vấn đề đối với một số loại học thuật nào đó. Ít nhất là trong vài thế kỷ trước đây, Hội Thánh đã phải đấu tranh với các ảnh hưởng trên đức tin của một loại học thuật Thánh Kinh đã quá thường xuyên nhằm phá ngầm và làm mất uy tín một số chân lý được làm chứng trong Thánh Kinh mà Hội Thánh coi là cần thiết cho đức tin của mình.
Kể từ thế kỷ 18 đặc biệt là thời Khai Minh, đã có một loạt các học giả có uy thế sử dụng các phương pháp phê bình để giải thích nhằm loại bỏ những yếu tố siêu việt, siêu nhiên, và kỳ diệu được tìm thấy trong Thánh Kinh, thường trên các cơ sở tiên nghiệm rằng không điều nào trong các điều ấy có thể có thật. Do đó, các phương pháp phê bình đã được dùng để “chứng minh” chúng không có thật.
Phương Pháp Phê Bình Lịch Sử
Cái thường được gọi là phương pháp phê bình lịch sử đã gần như, theo định nghĩa được giới hạn để cung cấp các giải thích tự nhiên, thực nghiệm, và chứng nghiệm cho những gì được viết trong Thánh Kinh. Trong quá khứ, các học giả Công giáo không phải là những người đứng đầu trong việc thực thi phương pháp này. Tuy nhiên, sau Thông điệp Providentissimus Deus (Về Nghiên cứu Thánh Kinh) của ĐGH Leo XIII năm 1893 và đặc biệt là Thông điệp Divino Afflante Spiritu của ĐGH Piô XII (Về việc Cổ Võ Nghiên Cứu Thánh Kinh năm 1943), các nhà chú giải Công Giáo đã hăng hái lao mình vào phương pháp phê bình lịch sử, dù không luôn luôn có những kết quả tốt đẹp nhất.
Việc nghiên cứu Thánh Kinh và nền tảng Thánh Kinh của đức tin Kitô giáo theo phương pháp phê bình lịch sử hầu như luôn được thực thi một cách rất khắt khe nếu không nói là thù nghịch. Ngay cả khi người Công Giáo tiếp tục khẳng định rằng Thánh Kinh là Lời Chúa được linh hứng, và phàn nàn đúng đắn về việc sử dụng học thuật để làm suy yếu đức tin, chúng ta vẫn không thể hối tiếc về tất cả những gì đã học được về Thánh Kinh trong hai thế kỷ qua bởi việc sử dụng phương pháp phê bình này. Không có gì tự nó là đúng cuối cùng có thể nguy hại cho đức tin Kitô giáo, nếu là sự thật.
Thí dụ, vào năm 1993, Ủy Ban Thánh Kinh đã ban hành một tài liệu dài và sâu sắc về việc nghiên cứu Thánh Kinh mang tên Việc Giải Thích Thánh Kinh trong Hội Thánh. Trong khi nhấn mạnh đến các phương pháp chú giải theo truyền thống, đặc biệt là mối liên hệ giữa khoa chú giải và thần học, tài liệu này cũng mô tả phương pháp phê bình lịch sử như là một “phương pháp không thể thiếu được cho việc nghiên cứu cách khoa học về ý nghĩa của các bản văn cổ”. Nhưng tài liệu này cũng nói rõ rằng, “phương pháp phê bình lịch sử không thể tự nhận là mình chiếm độc quyền…. Nó phải ý thức về những giới hạn của mình cũng như về các nguy hiểm mà nó đang bị đặt vào”.
Như vậy, vấn đề không là sử dụng phương pháp như thế, mà nó được dùng thế nào, bởi ai và với các giả định trước nào. Hiển nhiên, nếu một nhà phê bình tiếp cận Thánh Kinh với xác tín rằng phép lạ không thể xảy ra, thì việc lượng giá theo cách phê bình của họ chắc không mấy biểu lộ sự đánh giá cao ý nghĩa của các yếu tố kỳ diệu và siêu nhiên mà Thánh Kinh trình bày cách không thể phủ nhận được.
Phương pháp này có thể được sử dụng để phục vụ đức tin không? Thưa có, miễn là các học giả Kitô giáo tiếp tục coi đối tượng của mình như Lời Chúa được linh hứng và ý thức về cả những giới hạn cùng những nguy hiểm của phương pháp như thế.
Tuy vậy, còn nhiều đòi hỏi hơn. Hiến chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa, Dei Verbum của Công đồng Vaticanô II, đưa ra ba quy tắc giải thích Thánh Kinh thiết yếu mà Kitô hữu phải tuân theo. “Vì Thánh Kinh phải được đọc và giải thích với tác giả Thiên Chúa trong trí khôn,” Dei Verbum dạy: (1) “… để khám phá ra chính xác ý nghĩa của các bản văn thánh, cũng phải kỹ lưỡng xem xét đến nội dung và sự duy nhất của toàn thể Thánh Kinh, (2) dựa trên Truyền Thống sống động của toàn thể Hội Thánh và (3) sự suy loại đức tin. Đó là nhiệm vụ của nhà chú giải để làm việc theo những quy tắc này”. Bằng thuật ngữ “quy tắc”, các nghị phụ Công Đồng có ý nói rằng nhà chú giải không thể giải thích các văn bản một cách trái ngược với giáo lý đức tin đã được thiết lập hay các giải thích của những đoạn Thánh Kinh khác đã được Hội Thánh chấp nhận.
Nhiều học giả Công giáo đang làm việc theo những nguyên tắc hướng dẫn này. Tuy nhiên, thậm chí một quen thuộc hời hợt với một số học thuật Thánh Kinh đang được tiến hành bởi các học giả công khai tự nhận là Công giáo hiện nay gây ra thắc mắc liệu các hướng dẫn của Vaticanô II thực sự đang được tất cả mọi học giả, hay thậm chí hầu hết các học giả Công giáo hiện đại trong lãnh vực này, tuân giữ hay không. Đây là một câu hỏi chúng ta phải nhìn đến, nhưng trước hết, cần phải nhìn thoáng qua hình ảnh tổng quát rộng rãi có vẻ được nhiều học giả Thánh Kinh hôm nay tin tưởng sau hơn 200 năm của học thuật “phê bình”.
Người ta nói Thầy là ai?
Các thành quả của học thuật Thánh Kinh nói chung được công chúng chú ý thường liên quan đến Chúa Giêsu. Điều này không đáng ngạc nhiên. Cuối cùng, câu hỏi chính hôm nay, như trong thời Tân Ước, vẫn còn đó, “Bạn nghĩ gì về Chúa Kitô? Người là Con ai?” (x. Mt 22:42). Đó là một câu hỏi cần phải được trả lời ở mọi thế hệ. Tuy nhiên, trong số các học giả Thánh Kinh, hình như vẫn có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này khi có những tác giả cố gắng viết về “cuộc đời” Chúa Giêsu. Chỉ kể ra một vài tác giả vượt ra ngoài khuôn mẫu về Giêsu là một người lý tưởng và vị thầy dạy về đạo đức, còn có Giêsu Galilêa lãng mạn, Giêsu cách mạng chính trị, Giêsu mưu đồ Thiên Sai, Giêsu thuật sĩ và làm phép lạ, Giêsu nông dân Địa Trung Hải, và, gần đây hơn, Giêsu người Do Thái ngoài lề xã hội.
Nhiều nỗ lực của học thuật hiện đại để mô tả “Giêsu lịch sử” – tương phản với “Chúa Kitô của đức tin” được Hội Thánh rao giảng — có một lịch sử lâu dài, bắt nguồn đặc biệt từ tham vọng lâu năm của học thuật Đức để tái tạo lịch sử wie es eigentlich gewesen ist (điều ấy thực sự thế nào hay thực sự xảy ra thế nào). Trong thập niên thứ nhất của thế kỷ 20, Albert Schweitzer, trong cuốn sách nổi tiếng của ông, Việc tìm kiếm Chúa Giêsu Lịch Sử, đã ghi chép các nỗ lực chính của người Đức trong thế kỷ trước để tìm được Giêsu “thật” đằng sau những huyền thoại và truyền thuyết cho là đã được phát minh bởi Hội Thánh và ghi lại trong Tân Ước. Từ khi Schweitzer viết, chúng ta được biết rằng đã có một “cuộc tìm kiếm Giêsu lịch sử” thứ hai và thậm chí thư ba.
Chính Schweitzer đã viết, “Không có nhiệm vụ lịch sử nào tỏ lộ con người thật của một người như các văn bản về cuộc đời Chúa Giêsu …. Mỗi cá nhân tạo ra Người theo đặc tính riêng của mình.” Trong một phán quyết không phải là không thích hợp với việc tra cứu hiện đại của chúng ta, Schweitzer cũng đã xác định động lực cho hầu hết các nghiên cứu lịch sử hiện đại về Thánh Kinh, mô tả toàn bộ sự việc là “một cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên chế của tín điều“. Những kết quả có thể kiểm chứng được của nhiều nghiên cứu Thánh Kinh hiện đại dường như chịu phán quyết cuối cùng này của Albert Schweitzer đã được ghi nhận bởi nhiều quan sát viên có hiểu biết. Thí dụ, linh mục trẻ Giuse Ratzinger, khi viết như một nhà thần học trong Dẫn Nhập vào Kitô giáo (1968), cung cấp một mô tả đúng về những gì ngài gọi là sáo ngữ về Chúa Giêsu đã được thiết lập như là một kết quả của học thuật hiện đại:
Chúa Giêsu thành Nazareth thực sự là ai? Người tự hiểu mình thế nào? Nếu chúng ta tin những sáo ngữ hiện đại… đây có lẽ là cách các sự việc đã xảy ra: chúng ta phải hình dung Chúa Giêsu như một loại thầy tiên tri đã xuất hiện trong bầu khí cánh chung quá nóng bỏng của đạo Do Thái của thời đại của Người, và theo hoàn cảnh cánh chung đầy áp lực này, đã rao giảng việc Nước Thiên Chúa đã gần đến. Lúc đầu đây là một điều hoàn toàn thuộc về thời gian; Nước Thiên Chúa [nghĩa là] tận thế.
Mặc dù Sứ điệp này đã bị hiểu lầm. Đức Hồng Y tương lai Ratzinger tiếp tục giải thích rằng:
Vì nhiều lý do không còn có thể tái tạo đúng cách được, Chúa Giêsu đã bị xử tử và đã chết như một thất bại. Sau đó, bằng một cách không còn có thể phân biệt được, một niềm tin vào sự phục sinh của Người phát sinh. Ý tưởng là Người vẫn còn “sống” hoặc ít nhất Người vẫn “có nghĩa là” một điều gì rất quan trọng. Dần dần, ý tưởng xuất hiện … là Chúa Giêsu sẽ trở lại như Con Người, hoặc Đấng Mêssia.
Bước tiếp theo là dự phóng hy vọng này trở lại Chúa Giêsu lịch sử, đặt tất cả vào môi miệng Người, rồi tái giải thích Người cách phù hợp. Như vậy sự việc đã được sắp đặt lại để Chúa Giêsu đã có vẻ như công bố mình là Con Người, Đấng phải đến hay Đấng Thiên Sai.
Và như vậy, trong việc tái tạo ngắn này, Ratzinger đã giải thích cách thức mà học thuật hiện đại, đáng lẽ chỉ nhìn vào bằng chứng và “các sự kiện” lịch sử, đã cố gắng tái giải thich các hiện tượng về Chúa Giêsu. Ratzinger đã có nhiều hơn nữa để thêm vào Dẫn Nhập vào Kitô giáo của ngài, nhưng chúng ta có thể đi trực tiếp đến kết luận của ngài:
Đối với những ai nghĩ theo lịch sử, toàn bộ thuyết này trở nên một hình ảnh thật vô lý, mặc dù nó vẫn thu hút nhiều đám tín hữu. Về phần tôi, tôi phải thú nhận rằng, ngay cả ngoài đức tin Kitô giáo của tôi, và chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở những kiến thức của tôi về lịch sử, tôi sẽ dễ dàng và sớm tin rằng Thiên Chúa đã trở thành người hơn la tin vào một khối kết hợp của các giả thuyết có thể không bao giờ đúng.
Tóm lại, theo ĐHY Ratzinger thì đức tin của Hội Thánh đã không đứng vững một cách tồi tệ chút nào so với những gì là “tốt nhất” mà học thuật hiện đại đã đề ra. Một số nhà chú giải Công Giáo đương thời của chúng ta nhìn vấn đề này như thế nào?
Nhà Chú Giải Thánh Kinh Công Giáo lỗi lạc nhất của nước Mỹ?
Đức Ông George A. Kelly, trong sách Các Lý Thuyết Gia Mới của Thánh Kinh (1983) của ngài, cẩn thận nhìn vào các tác phẩm của cố linh mục Xuân Bích Raymond Brown, thành viên nổi danh nhất của toàn thể trường phái các nhà chú giải Công giáo hậu Vaticanô II đã dấn thân vào phương pháp phê bình. Ngài cho thấy cha Brown và “trường phái” của cha, đã khá tách xa việc tuân thủ những đòi hỏi cho việc chú giải Thánh Kinh Công Giáo vững chắc được đặt ra bởi Vaticanô II.
Mặc dù cha Brown và các đồng nghiệp điển hình của cha có thói quyen tự nhận là giải thích Thánh Kinh theo Providentissimus Deus và Divino Afflante Spiritu,, Đức Ông Kelly cho thấy thực tế thật là khác xa. Thường thì các nhà chú giải Công Giáo mới này đã không mấy chú ý đến Truyền Thống của Hội Thánh hoặc tính loại suy của đức tin; họ thường xuyên tiếp cận Thánh Kinh từng phần, trong cô lập, và từ một góc độ gần như hoàn toàn theo chủ nghĩa tự nhiên. Đức Ông Kelly nhận thấy khá nhiều ý kiến của cha Brown có vẻ như mâu thuẫn với đức tin đã được thiết lập của Hội Thánh, chẳng hạn như:
- Các truyện về giáng sinh của Chúa Kitô tiêu biểu cho lịch sử không chắc chắn.
- Việc Đức Mẹ thụ thai Chúa Giêsu mà còn đồng trinh là một vấn đề lịch sử vẫn chưa được giải quyết.
- Bất cứ ý tưởng nào về Chúa Kitô thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly phải là “khác biệt nhỏ”.
- Nhóm Mười Hai không phải là các nhà truyền giáo hay giám mục.
- Quyền năng bí tích đã được trao cho toàn thể cộng đồng Kitô hữu (chứ không phải chỉ cho các giáo sĩ “có chức thánh”).
- Vaticanô II “ngây thơ về Thánh Kinh” khi gọi các giám mục là kế vị các tông đồ, và vân vân.
Khi ý kiến như những ý kiến này — và chúng tôi chỉ trích dẫn một vài ý kiến được Đức Ông Kelly nhận ra — đang được người được coi là học giả Thánh Kinh Công Giáo hàng đầu của nước Mỹ âm thầm tán thành, thì có vẻ thật sự là có vấn đề với một số học thuật Thánh Kinh Công Giáo thời nay vì nó liên quan đến đức tin của Hội Thánh. Thực ra, Truyền Thống của Hội Thánh, đặc biệt là huấn quyền sống động của Hội Thánh, rất hiếm được thậm chí hầu hết các học giả Thánh Thánh Kinh Hoa Kỳ hiện đại đề cập đến. Không phải đến mức họ chấp nhận một quan điểm công khai bất đồng với những giáo huấn của Huấn Quyền, như nhiều nhà thần học luân lý hiện đang làm: Trái lại, họ có thói quen tự nhận là hoàn toàn trung thành với Hội Thánh và giáo huấn của Hội Thánh. Mặc dù, trong thực tế, họ thuyết trình, viết lách và xuất bản như huấn quyền không hiện hữu.
Sự Đóng Góp Đức Ông Meier vào cuộc Xung Đột
Điển hình là rất nhiều học giả Công Giáo này có vẻ tự hào là được coi đơn thuần là những học giả dấn thân cho phương pháp phê bình hiện đại chứ không phải là người Công giáo dấn thân cho đức tin. Một học giả đương thời, Đức ông John Meier của Đại học Notre Dame, trong một cuốn sách viết về Chúa Giêsu lịch sử, Một Người Do Thái Ngoài Lề Xã Hội đã thu hút được sự chú ý đáng kể khi xuất hiện năm 1991, nói trong phần giới thiệu của ngài rằng đó là tham vọng có ý thức của ngài để “tách rời khỏi điều đức tin Kitô giáo hay giáo huấn sau này của Hội Thánh dạy về Chúa Giêsu, mà không xác nhận hay phủ nhận các công bố như vậy”. Ngài viết, “Tôi sẽ cố gắng đặt ra ngoài những gì tôi tin và chỉ kiểm tra những gì có thể được chứng minh là chắc chắn hay có thể xảy ra bởi nghiên cứu và luận chứng lịch sử”.
Bất cứ điều gì khác có thể nói về kế hoạch của đức ông Meier, chúng ta chắc chắn có thể kết luận dựa trên các lời của riêng của ngài rằng nó dứt khoát là không hợp với những gì Vaticanô II nói về việc nghiên cứu Thánh Kinh Kitô giáo. Thực ra, toàn bộ tiến trình của ngài đòi buộc phải làm chính điều mà Vatican II đã dạy là một nhà chú giải Công giáo không bao giờ được làm, cụ thể là, tách rời khỏi đức tin của Hội Thánh và tính loại suy đức tin. Còn hơn thế, có một điều gì đó rất thiếu trung thực (nếu không thực sự là không thành thật) khi khẳng định rằng các kết luận dựa trên lịch sử nhất thiết phải bác bỏ việc dựa trên đức tin – nếu một người thực sự giữ đức tin. Chẳng hạn như về “anh em” Chúa Giêsu được đề cập trong Mt 12:46, Mc 3:31, và Lc 8:19, đức ông Meier nói rằng đơn thuần được nhìn từ một quan điểm ngữ văn và lịch sử, “ý kiến khả thi nhất là anh chị em của Chúa Giêsu là anh chị em ruột của Người”. Nhưng, như mọi người đều biết, Hội Thánh khẳng định Đức Maria trọn đời đồng trinh, và do đó, Chúa Giêsu không thể có bất cứ anh chị em nào cả. Tuy nhiên, chúng ta có thể giải thích các bản văn Tân Ước ở đây.
Cả hai quan điểm này, quan điểm có thể “theo lịch sử” cùng quan điểm “đức tin” kiên định và vững chắc không thể đều đúng được, và không biết là nhằm mục đích gì mà một thành viên của phân khoa tại một trường đại học Công Giáo nhất định cổ võ cho điều có vẻ như một loại chân lý hai mặt. Phương pháp được công bố của ngài cho phép ngài giải thể cấu trúc Tân Ước hết mực như bất cứ người vô thần nào làm, như nhóm Jesus Seminar làm — và sau đó ôn tồn tuyên bố rằng mình vẫn giữ đức tin là điều ngài vừa xét là không chắc chắn hay không thể xảy ra được dựa vào lý trí. Trong bầu khí trí thức hiện nay, các đồng nghiệp của ngài đã tôn vinh ngài vì “sự trung thực” không chùn bước của ngài khi đối diện với “các sự thật”. Tiếc thay, với quan sát viên bên ngoài thì không rõ là tất cả sự kiện của ngài là sự thật. Hơn nữa, thực ra, theo bản chất của trường hợp, việc tách rời khỏi đức tin bước một cách nguy hiểm đến gần việc coi thường, nếu không từ bỏ đức tin.
Tuy nhiên, không cần nghiên cứu học giả đặc biệt này một cách chi tiết hơn, chúng ta cũng có thể kết luận dựa trên những gì đã thấy là có một sự tách rời rộng rãi và nghiêm trọng giữa các tiếp cận, phương pháp và kết quả của học thuật Thánh Kinh Công Giáo “gần đây nhất” với đức tin của Hội Thánh.
Cha Boismard của Ecole Biblique
Có phải việc hạ thấp và thậm chí tách rời khỏi đức tin trong một số học thuật Thánh Kinh Công giáo hiện nay hoàn toàn là một vấn đề của Hoa Kỳ không? Thưa không. Điển hình là Cha M.E. Boismard, dòng Đa Minh, một học giả Công giáo Pháp nổi tiếng. Trong 43 năm, ngài đã là một giáo sư tại Ecole Biblique ở Giêrusalem, một học viện có uy tín đã xuất bản bản dịch Thánh Kinh Giêrusalem nổi tiếng. Cha Boismard có một danh sách dài các ấn phẩm học thuật và có vẻ rất được kính phục trong lĩnh vực này. Linh Mục Đa Minh này tiếp cận công việc của ngài thế nào? Ngài có tuân thủ quy tắc ba chiều kích để nghiên cứu Thánh Kinh như đã được nêu lên ở Điều 12 của Dei Verbum của Vaticanô II không? Tên của chính một trong những tác phẩm gần đây của ngài cho chúng ta ngay một câu trả lời: Tên (phiên dịch) Chúng ta còn nên nói về sự Phục Sinh không? (1995).
Phản ứng đầu tiên của người Công Giáo bình thường với câu hỏi này chắc chắn là: Nếu Tân Ước và Kinh Tin Kính nói về nó thì chúng ta có thể không nói về sự sống lại theo quan điểm đức tin sao? Cha Boismard đặt trọng tâm nhiều đến sự kiện là Kinh Tin Kính Nicê nói về sự sống lại của kẻ chết, chứ không phải của thân xác; và nói cho đúng, thì ngài đưa ra một giả thuyết là thực sự thì không có sự sống lại cho chúng ta mà chỉ có sự bất tử của linh hồn theo nghĩa Hy Lạp. Theo một nghiên cứu tỉ mỉ các văn bản liên hệ trong Tân Ước, ngài có vẻ tin rằng hình phạt đời đời thực sự có nghĩa là sự tiêu hủy của người không hối cải; ngài dường như không thể chịu nổi một Thiên Chúa giữ linh hồn tồn tại để trừng phạt họ đời đời. Mặc dù điểm chính của ngài là sự sống lại của Chúa Giêsu không có nghĩa là sự sống lại cho chúng ta; khi xác chết thối rữa, chúng không còn nữa. Tuy nhiên Kinh Tin Kính của các Tông Đồ tiếp tục nói về “sự sống lại của thân xác”, cũng như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bao gồm “Sự Phục Sinh của Chúa Kitô và của chúng ta.” như một trong các đề mục của nó.
Trên thực tế, trong cuốn sách mới nhất của ngài, Rạng Đông của Kitô giáo, có phụ đề Trước sự ra đời của các Tín Điều (1998), cha Boismard củng cố cảm tượng của chúng tôi là ngài đã đơn thuần từ bỏ đức tin Công Giáo. Sách này bao gồm những năm đầu của Kitô giáo đến gần cuối thế kỷ thứ nhất, khi theo quan điểm học thuật hiện nay thì hầu hết các sách Tin Mừng chung cuộc đã được viết. Điều quan trọng cho thuyết của cha Boismard là các tín điều được “sinh ra” — và đã có một thời gian trước khi chúng được sinh ra.
Chúng ta biết rằng các tín điều (hay học thuyết) dĩ nhiên là “phát triển”. Tuy nhiên, trong sách này, Cha Boismard không bàn về “những phát triển” của các tín điều hay học thuyết dựa vào một mặc khải nguyên thủy đến từ lời nói và việc làm của Chúa Kitô. Tiếp cận của ngài có vẻ như cho rằng không bao giờ có bất cứ mặc khải nguyên thủy nhất định nào. Ý tưởng của ngài dường như là các tín điều chỉ đơn thuần lớn lên trong Hội Thánh, đôi khi dựa trên các ảnh hưởng từ các nguồn khác với các sách Tin Mừng. Vì vậy, điển hình là thiên tính của Chúa Kitô, cha thẳng thừng khẳng định rằng trong Tin Mừng Marcô, được coi là “nguyên thủy nhất” trong bốn Tin Mừng, “Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa.” Chỉ sau này, và chắc chắn không phải đến khoảng 80 AD, “biên tập viên cuối cùng” của Tin Mừng Gioan, giả thiết ảnh hường bởi Philo thành Alexandria, xác định Chúa Giêsu là Thiên Chúa, khi ấy thêm cụm từ “và Ngôi Lời là Thiên Chúa” vào Gioan 1:1.
Cách thức mà một số tín điều khác của Hội Thánh bị coi là được sinh ra cách tương tự như tín điều về thiên tính của Chúa Kitô cũng được bàn đến trong sách này. Trong khi không thể phân tích một cách chi tiết, chúng ta có thể tóm lược ngắn gọn một vài kết luận khác của Cha Boismard về thụ thai đồng trinh và Ba Ngôi.
Trong khi thừa nhận rằng việc thụ thai đồng trinh của Chúa Giêsu được kể lại trong các trình thuật thời thơ ấu của Matthêu và Luca, cha Boismard lại kết luận rằng các tường thuật này là “các biên soạn muộn”, tường thuật trong Luca sửa đổi một tường thuật ban đầu, trong đó cha Boismard cho là lúc đầu đã viết rằng Chúa Giêsu đã được thụ thai cách thông thường như mọi người. Làm sao mà cha có thể biết điều này, trong khi không có bất kỳ văn bản thật sự của bản văn Luca sớm hơn này, dường như là một trong các bí ẩn của học thuật Thánh Kinh hiện đại mà những người không có kiến thức chuyên môn không thể hiểu được.
Cha Boismard hỏi liệu Chúa Giêsu cùng các Kitô hữu đầu tiên có tin vào Ba Ngôi hay không. Cha vạch ra rằng tín điều này giả định trước theo triết học Hy Lạp, nhận ra sự phân biệt giữa “bản thể” (một và duy nhất) và “ngôi vị” (ba) và kết luận từ điều này là Chúa Giêsu và các tông đồ không tin, và không thể tin, Thiên Chúa Ba Ngôi. Đương nhiên là những sự khác nhau đặc biệt này đã thực sự được thiết lập khi Hội Thánh cuối cùng xác định tín điều này tại Công Đồng Chalcedon vào thế kỷ thứ năm; nhưng điều này không có nghĩa là Thiên Chúa Ba Ngôi đã không được “mặc khải”, cũng không phải các Kitô hữu đầu tiên không thể tin điều ấy trước khi thành công thức cuối cùng của nó. Cha Boismard khẳng định rằng công thức Ba Ngôi trong Matthêu 28:19 không từ Chúa Giêsu nhưng được “soạn giả cuối cùng” của Tin Mừng Matthêu thêm vào, khoảng năm 80 AD – chúng ta bắt đầu thấy tại sao cần rất nhiều “tầng lớp” và “biên soạn”!
Chúng ta có lẽ có thể kết thúc bài tường thuật không mấy bổ ích này bằng cách nhắc lại rằng, theo giải thích của cha Boismard thì soạn giả cuối cùng của Tin Mừng Gioan đã thêm cụm từ “và Ngôi Lời là Thiên Chúa” vào Gioan 1:1 để cạnh tranh với giáo phái thờ nữ thần Artemis, con gái thần Giupiter, được thịnh hành vào thời ấy tại Êphêsô ở Tiểu Á. Làm sao mà một Giêsu thấp hèn, vô danh và chịu đóng đinh có thể cạnh tranh được với nữ thần Artemis lộng lẫy và đền thờ bà ở Ephesô, một trong những Kỳ Công cổ xưa của thế giới? Chỉ khi chính Người là Thiên Chúa và Con Thiên Chúa. Do đó, thêm một cụm từ phù hợp với ảnh hưởng ấy vào đoạn mở đầu của Tin Mừng Gioan và biến Chúa Giêsu thành Thiên Chúa!
Tất cả điều này thật là nực cười nếu không phải là quá đáng buồn — và nếu nguy cơ cho đức tin không phải là quá cao. Mặc dù, chắc chắn có vẻ là đức tin của Hội Thánh đang bị thách đố bởi các học giả vượt xa hàng ngũ nhóm Jesus Seminar; đức tin của Hội Thánh rõ ràng là đang bị thách đố không kém bởi một số học giả đáng lẽ là trong hàng ngũ của chính Hội Thánh.
Kenneth D. Whitehead, một nhà văn, chủ bút và dịch giả, là cựu phụ tá Bộ Trường Giáo Dục Hoa Kỳ thời Tổng Thống Reagan.
Bài này được đăng trong Crisis Magazine tháng tư năm 2000 và đăng lại trong website CatholicCulture.org.
Dùng với phép của CatholicCulture.org.
Bạn có thể đọc bài tiếng Anh ở nối dưới đây:
© Crisis Magazine. This item 2851 digitally provided courtesy of CatholicCulture.org
https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=2851