Định Nghĩa Giao Ước
“GIAO ƯỚC” là một thỏa ước, hợp đồng, di chúc hoặc hiệp ước chính thức giữa hai bên, với các bổn phận cụ thể ở mỗi bên. Quan niệm về giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài là một trong những chủ đề chính của Thánh Kinh. Theo nghĩa của Thánh Kinh, một giao ước có ý nghĩa nhiều hơn một giao kèo hoặc một thoả thuận đơn giản giữa hai bên.
Sự Khác Biệt giữa Giao Ước và Giao Kèo.
| Giao Ước | Giao Kèo |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Giao Ước trong Thánh Kinh
- Giao ước trong thuật ngữ cổ đại của tiếng Do Thái là berith, của tiếng Hy Lạp diatheke, và tiếng Latinh là testamentum
- Thuật ngữ này được sử dụng 287 lần trong Thánh Kinh Do Thái hay Cựu Ước (sử dụng lần đầu ở St 6:18), bao gồm “Baal-berith” trong Thủ Lãnh 8:33 & 9: 4, và “El-berith” trong Thủ Lãnh 9:46.
- và được sử dụng 33 lần trong Tân Ước, đặc biệt là trong Thư gửi tín hữu Do Thái (17 lần).
- Các giao ước thường hứa hẹn những lợi ích phần thưởng, hoặc phước lành cụ thể, cho những người giữ các điều khoản của giao ước; nhưng chúng cũng đe doạ sửa trị, trừng phạt hoặc chúc dữ cho những người vi phạm các điều khoản của giao ước.
- Các giao ước có thể có điều kiệnb hay vô điều kiện.
- Với một giao ước có điều kiện, các điều khoản của giao ước tuỳ thuộc vào người nhận giao ước, chứ không tuỳ thuộc vào người ban giao ước. Người nhận giao ước phải chu toàn một số bổn phận hoặc điều kiện của giao ước trước khi người ban giao ước bị bắt buộc phải làm tròn điều mình đã hứa.
- Với một giao ước vô điều kiện, việc thực hiện điều đã hứa chỉ tuỳ thuộc vào quyền hành và nhân cách của người thiết lập giao ước. Đó là một lời hứa không có từ “nếu” đi kèm.
- Các giao ước cần được chính thức phê chuẩn, thường được đóng ấn bằng máu, và do đó thường liên quan đến việc sát tế thú vật; Các biểu tượng cụ thể hoặc “dấu chỉ” cũng thường được trao đổi để nhắc nhở hai bên về thỏa ước của họ.
- Các bên liên hệ có thể là cá nhân, gia đình, quốc gia, các vua, hoặc thậm chí Thiên Chúa;
- Các bên có thể ngang hàng với nhau (hai gia đình, hai vị vua) với các bổn phận hỗ tương được tự do thỏa thuận
- hoặc họ có thể không ngang hàng với nhau (Thiên Chúa và con người, đế quốc lớn và một quốc gia nhỏ hơn) với bên mạnh hơn áp đặt các điều kiện cho bên yếu hơn (vâng lời, đóng thuế, triều cống) để đổi lấy việc bảo vệ một số lợi ích nhất định)
- Một số học giả Thánh Kinh phân biệt giữa “hợp đồng” (một sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ) và “giao ước” (một sự trao đổi con người, thí dụ như trong hôn nhân, hoặc khi dân Israel được gọi là “con đầu lòng” của Thiên Chúa trong sách Xuất Hành 4:22).
Đại Cương Các Giao ước chính trong Cựu Ước:
Hai giao ước đầu tiên áp dụng cho tất cả mọi người, ba giao ước tiếp theo áp dụng cụ thể cho người Do Thái, “Con cái ông Abraham”:
- AĐAM and EVÀ (Sáng Thế ký 1-2, mặc dù không sử dụng từ “giao ước”, nhưng một số lời hứa của Thiên Chúa được nói lên)
- Sự sống trên Trái Đất: “Hãy sinh sôi nảy nở, tràn đầy trái đất và trấn áp nó …” (1:28)
- Ăn thực vật: “Ta đã ban cho các ngươi tất cả mọi cây … và mọi cây có hạt trong hoa quả nó … để làm thức ăn” (1:29)
- Nam và Nữ: “Người đàn ông ở một mình không tốt” (2:18, xem 1:27)
- Sự bất phục tùng và sự chết: “… nhưng cây biết lành biết dữ thì các người không được ăn” (2:17)
- NOE và gia đình (St 6-9)
- Sự sống: Thiên Chúa cứu vớt gia đình của Nôê (6:18), bảo họ sinh sôi nảy nở và nhân rộng, và đổ đầy đất (9: 1, 7)
- Thức ăn: bây giờ họ cũng ăn động vật, nhưng không được ăn / uống máu, và không thể làm mất máu người (9: 2-6)
- Giao Ước: Thiên Chúa hứa sẽ không dung hồng thuỷ mà tiêu diệt toàn thể nhân loại nữa (9: 8-11)
- “dấu chỉ” của giao ước này: cầu vồng được đặt trong đám mây mỗi khi trời mưa (9: 12-17)
- Ông ABRAHAM và các Con Cháu ông (Sáng Thế 12, 15, 17)
- Con cháu ông sẽ rất đông đúc và sẽ trở thành một dân tộc vĩ đại (12: 2, 15: 5, 17:20, 18:18, vân vân)
- họ sẽ thừa kế “đất hứa”, sau này được gọi là đất Israel (12: 1, 15: 18-21, 17: 8, vân vân)
- tất cả các dân tộc khác sẽ được chúc phúc trong ông (12: 3, 18:18) hoặc qua con cháu ông (22:18, 26: 4)
- “dấu chỉ” của giao ước này: viêc cắt bì của tất cả con cháu ông thuộc nam giới (17: 9-14, 23-27, 21: 4, vv)
- Ông MÔSÊ và dân Do Thái (Xuất Hành 20-34, Đnl 5-11)
- Thuyết Đôc thần: “Hỡi Israel, hãy nghe đây: Chúa là Thiên Chúa của chúng ta, chỉ một mình Chúa” (Đnl 6: 4, x. Xh 20: 1-3)
- Ngũ Kinh: Lề Luật được ban trên Núi Sinai, hoặc Núi Horeb (đặc biệt là Mười Điều Răn: Xuất Hành 20: 1-17, Đnl 5: 1-21)
- Mối liên hệ tương tác: “Ta sẽ làm Thiên Chúa của các ngươi, các ngươi sẽ là dân của Ta” (Xuất Hành 6: 7, Lêvi 26:12)
- “dấu chỉ” của giao ước này: những bia đá mà trên đó Lề Luật được viết (Xuất Hành 24:12, 31:18; v.v.)
- VUA ĐAVID và Vương Quốc (2 Sam 7)
- Thiên Chúa sẽ thiết lập “nhà” của Đavid mãi mãi = triều đại qua con cháu của ông (7: 11-16)
- Con của Đavid (Salômôn) sẽ xây “nhà” của Thiên Chúa là đền thờ đầu tiên của Giêrusalem (7: 4-7, 13)
- “dấu chỉ” của giao ước này: các con cháu của Đavid (1-3) và chính đền thờ (1Vua 5-8)
Giao Ước “Mới” hoặc “Canh Tân”:
- GIÊRÊMIA: Tiên báo Giao Ước Mới
- Chúa sẽ lập “một giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa” (Jer 31:31)
- Lề Luật của Thiên Chúa sẽ ở trong con người, được viết lên trong lòng họ (Gr 31:34)
- Đoạn văn này cũng được trích dẫn trong Tân Ước trong Do Thái 8: 8-12
- CHÚA GIÊSU
- Trong Bữa Tiệc Ly: “Chén nầy được đổ ra cho các con là giao ước mới trong Máu Thầy.” (Luca 22:20, xem 1Cor 11:25)
- Thư Do Thái gọi Chúa Giêsu là “trung gian hòa giải của giao ước mới” (Dt 9:15, 12:24, cũng xem 8: 1-13)
- Thánh Phaolô cũng nói về các nhà lãnh đạo Kitô giáo là “các thừa tác viên của một giao ước mới” (2Cor 3: 6).
Ba Giao Ước Chính của Cựu Ước
-
Giao Ước với ông Abraham
Sách Sáng Thế từ chương 12 đến 50 nói về việc Thiên Chúa gọi ông Abraham và chuẩn bị gia đình ông để thành lập Dân Israel ra sao. Đầu tiên, Thiên Chúa gọi ông bỏ miền Canđê để đi về đất Israel. Ngài hứa với ông ba điều:
1) Ban đất và làm cho con cháu ông thành một dân tộc lớn (St 12:1-2)
2) Sẽ làm cho danh ông được vang lừng, nghĩa là sẽ thiết lập một triều đại vương đế (St 12:2)
3) Nhờ ông mà các dân tộc trên thế gian được chúc phúc, nghĩa là ông sẽ làm tổ phụ một gia đình toàn cầu (St 12:3).
Ba lời hứa này của THiên Chúa được củnhg cố bằng ba lời thề.
Lời Thề Thứ Nhất:
Triong Sáng Thế 15, khi ông Abram chưa có con, Thiên Chúa đã thề rằng Ngài sẽ cho ông sẽ là cha của nhiều con cháu, là những kẻ sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ và nhận được Đất Hứa (Sáng Thế 15:13-16).
Lời Thề Thứ Hai
Ở Chương 17, Thiên Chúa đổi tên ông Abram “Abraham”, nghĩa là “cha của vô số dân” (St 17:15) Ngài cũng đổi tên bà Sarai thành “Sara” nghĩa là “nguời mẹ vĩ đại” (St 17:15). Thiên Chúa thề một lời thề giao ước khác với ông Abraham là cho ông một người con bởi bà Sara, Ishmael không phải người thùa kế được chọn. Điều này tiền trưng cho giao ước Thiên Chúa với vua Đavid để thiết lập vương quốc của ông trong 2 Samuel 7:9.
Lời Thề Thứ Ba
Sau khi ông Abraham vâng lời Thiên Chúa đem Isaac lên núi Môriah để sát tế, Thiên Chúa đã thề với ông lần cuối cùng. Thiên Chúa tái giao ước với ông và thề chúc phúc các dân tộc qua miêu duệ của ông (St 22:11-18).
Việc thực hiện Ba Lời Thề này
Ba lời thề của giao ước này sẽ được thực hiện bởi:
1) Cuộc Xuất Hành và giao ước với ông Môsê,
2) Vương quốc và giao ước với vua Đavid,
3) Chúa Giêsu và Giao Ước Mới.
Đức Tin và Vâng Phục của Ông Abraham:
Cuộc đời ông Abraham cho thấy rằng con đường đến phúc lành được trải đầy thử thách và cám dỗ. Vừa mới đến đấp Palestine, ông đã gặp ngay nạn đói và phải bỏ sang Ai Cập. Khi từ Ai Cập trở lại Palestine, ông vẫn lang thang khắp chốn và phải vật lộn với cuộc sống. Khi ông đã già mà chưa có con nối dõi, ông vẫn tin vào lời hứa (St 15:5) rằng con cháu ông sẽ đông đúc như sao trên trời và đã đồng ý lập giao ước với Thiên Chúa.
Khi nghe lời vợ, ăn nằm với người tớ gái là Hagar (St 12), ông tưởng rằng Ismael chính là đứa con của lời hứa. Ông đã vâng lời Thiên Chúa làm phép cắt bì cho con và tất cả những người theo ông như lời Thiên Chúa truyền. Nhưng Thiên Chúa muốn người con do chính hai ông bà sinh ra mới là người con củ lời hứa và Isaac đã sinh ra như Thiên Chúa đã hứa trong chương 18. Đang tưởng rằng giấc mông sắp thành thì Thiên Chúa truyền cho ông đam Isaac lên núi Môreah mà sát tế (St 20). Không một chút do dự, ông đã vâng lời Thiên Chúa và Ngài đã chúc phúc cho ông vì sự tin tưởng và vâng phục này.
Giao Ước với Dân Israel
Ở Ai Cập, con cháu các tổ phụ đã gia tăng đến nỗi vì lý do chính trị mà họ bị các Pharaô bắt làm nô lệ. Khi kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa rằng họ đã bị áp bức và làm nô lệ đến nỗi họ đáng thương như một dân trong tình trạng nô lệ tội lỗi nhất đời, Thiên Chúa nâng ông Môsê dậy và truyền cho ông đam dân Ngài ra khỏi ách nô lệ và đưa họ đến núi Sinai.
Trên núi Sinai, Thiên Chúa làm tròn lời hứa với ông Abraham (St 12:3) bằng cách lậo giao ước của Ngài với dâm Israel, nhấn mạnh đến lề luật và nhiệm vụ, nhận dân Israelites làm của Mình như dân giao ước của Ngài (Xh 19-24) hứa cho họ phúc lành, sự bảo vệ, thịnh vượng và bình an. Lời hứa cao cả nhất của Ngài là ời hứa quen biết với ngài cách mật thiết.
Ở Núi Sinai, Thiên Chúa công bố rằng dân Israel là “vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19:6). Ngài ban cho họ Mười Điều Răn (Xh 20:1-17,32:16) qua ông Môsê cùng các luật dân sự để họ biết phải xử sự thế nào với một số hành vi phạm pháp (Xh 21-23).
Nhưng họ than trách Ngài và phản bội ngài bằng cách đúc một con Bò Vàng mà thờ trong khi ông Môsê nhận Mười Điều Răn của Thiên Chúa trên núi. Khi thờ bò vàng, dân Israel đã chịu thua ba cám dỗ chính: tiền bạc, sắc dục và quyền hành. Khi dân Israel phá vỡ giao ước, dân tộc đáng chịu lời chúc dữ chết chóc của giao ước (Xh 32:7, 3:10,5:1,6:7). Ông Môsê xuống núi và khi thấy việc thờ ngẫu tượng của dân Israel, ông đã dập tan bia đá của Mười Điều Răn (Xh 32:15-19). Và ông Môsê đã khẩn cầu Thiên Chúa tha thứ cho dân và ban cho họ giao ước thứ hai thay chi giao ước đã bị đập bể. Thiên Chúa đã nhận lời ông và tiếp tục giữ lời hứa với Tổ Phụ Abraham.
Thiên Chúa hứa cho họ một ngôn sứ khác giống như Môsê là Đức Kitô.
Trong Đnl 18:15 ông Môsê báo trước về Đức Kitô rằng, “Trong các huynh đệ của anh em, Đức CHÚA, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi; các anh em hãy nghe Người.” và trong Đnl 18:18, chính Thiên Chúa đã hứa: “Ta sẽ lập cho chúng một đấng ngôn sứ như ngươi, từ giữa anh em chúng, và Ta sẽ đặt các lời Ta vào miệng người; người sẽ nói cho chúng tất cả mọi điều Ta truyền cho người.”
Giao Ước với Vua Đavid
Sau khi loại bỏ Saulê (1 Sam 13:14), Thiên Chúa đã truyền cho tiên tri Samuel xức dầu cho Đavid (1 Sam 16:11-13) dù lúc đó Đavid chỉ là một thiếu niên.
Sau khi đã thống nhất sơn hà, vua Đavid muốn xây Đền Thờ cho Thiên Chúa, nhưng Ngài đã sai ngôn sứ Nathan đến cùng vua Đavid và nói rằng:
“ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en. Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất. Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu, kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, ĐỨC CHÚA báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà. Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người. Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó, như Ta đã cho rời khỏi Sa-un, kẻ Ta đã bắt rời khỏi mặt ngươi. Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi.” (2 Sam 7:11-16).
Khi con cháu Đavid không ai cói vẻ có thể làm tròn lời hứa này, thì các ngôn sứ Isaia và Giêrêmia đã phục hồi niềm hy vọng vào “Con Vua Đavid” trong các lời loan báo của mình.
Isaia viết trong Is 9: 5-6 về Đấng Mêsia
Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta,
một người con đã được ban tặng cho ta.
Người gánh vác quyền bính trên vai,
danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh,
người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.
“Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận
cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít.
Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền
trên nền tảng chính trực công minh,
từ nay cho đến mãi muôn đời.
và gọi Người là “giao ước hoà bình” *(Is 54:10) và “ánh sáng muôn dân” (Is 42:1-7).
Còn ngôn sứ Giêrêmia thì nói về một giao ước mới như sau:
“Này sẽ đến những ngày -… – Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng -…. – Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó -… – Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta.”
Lời hứa này đã được thực hiện khi thiên thần truyền tin cho Đức Me trong Luca 1:32-33:
“Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”
Bài Đọc và Handout