Tầm Quan Trọng của Kinh Tin Kính (Ngày 17 tháng 10, 2012)
Thiên Chúa đã tỏ mình ra bằng các lời nói và việc làm trong suốt lịch sử dài của tình bằng hữu với con người, đạt đến tột đỉnh trong việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa và trong Mầu Nhiệm Sự Chết và Phục Sinh của Người. Thiên Chúa không những đã tỏ mình ra trong lịch sử của một dân, đã chỉ nói qua các ngôn sứ, nhưng Người đã vượt qua ranh giới Thiên Đình để vào thế giới của loài người, như một người, để ta có thể gặp gỡ và lắng nghe Người. Và từ Giêrusalem, việc loan báo Tin Mừng cứu độ được loan truyền cho đến tận cùng trái đất. Hội Thánh, được sinh ra từ cạnh sườn Đức Kitô, trở nên sứ giả của niềm hy vọng mới và chắc chắn: Chúa Giêsu thành Nazareth, Chịu Đóng Đanh và Sống Lại, Đấng Cứu Thế, đang ngự bên hữu Chúa Cha, và là Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. Đó là lời rao giảng ban đầu, là lời loan báo chính yếu và không ngừng của đức tin. Tuy nhiên, ngay từ đầu, đã có vấn đề “qui luật của đức tin”, nghĩa là vấn đề sự trung thành của các tín hữu với Chân Lý Tin Mừng, là điều mà họ phải gắn bó chặt chẽ, với chân lý cứu độ về Thiên Chúa và về loài người, phải được duy trì và truyền lại. Thánh Phaolô viết: “Tôi đã rao giảng cho anh em Tin Mừng, mà anh em đã nhận, đã đứng vững trong đó, được cứu độ nhờ đó, nếu an hem nắm chặt. Nếu không, anh em tin vô ích”(1 Cor 15:2).
Nhưng chúng ta tìm thấy công thức thiết yếu của đức tin ở đâu? Chúng ta tìm thấy chân lý được trung thành truyền lại và là ánh sáng cho đời sống hằng ngày của chúng ta ở đâu? Câu trả lời thật đơn giản: trong Credo (Kinh Tin Kính), trong bản Tuyên Xưng Đức Tin, hay Tín Biểu, trong đó ta lại được nối kết với biến cố nguyên thủy của Con Người và lịch sử của Chúa Giêsu thành Nazareth; điều mà Vị Tông Đồ Dân Ngoại đã nói với các tín hữu thành Côrinthô xảy ra: “Vì trước tiên, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà tôi đã cũng nhận được là, Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Thánh Kinh, đã được mai táng và sống lại trong ngày thứ ba” (1 Cor 15:3-5).
Ngày nay cũng thế, ta cần phải biết, hiểu và cầu nguyện Kinh Tin Kính một cách tốt hơn. Điều quan trọng đặc biệt có thể nói rằng Kinh Tin Kính phải “được nhận biết”. Thực ra, biết có thể là một hoạt động thuần túy tri thức, trong khi “nhận biết” nghĩa là cần phải khám phá ra mối liên hệ sâu xa giữa chân lý mà ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính với cuộc sống hằng ngày của mình, để các chân lý ấy thực sự và cụ thể là, như chúng đã luôn là, ánh sáng soi bước đi của cuộc đời ta, là nước tưới các đoạn đường khô cằn trong cuộc hành trình của ta, là sinh lực vượt qua một số vùng đất sỏi đá của cuộc sống hôm nay. Đời sống luân lý của Kitô hữu được gắn liền với Kinh Tin Kính, và tìm thấy trong đó nền tảng và lý do biện minh cho nó.
Các Kitô hữu thường không biết ngay cả cốt lõi của đức tin Công Giáo của họ, Kinh Tin Kính, đến nỗi họ dành chỗ cho một chủ nghĩa tôn giáo pha trộn và tương đối, làm lu mờ các chân lý cần phải tin, cũng như đặc tính cứu độ độc đáo của Kitô giáo. Như thế, nguy cơ tạo ra một tôn giáo “tự pha chế” không còn xa lắm. Thay vào đó, ta phải trở về với Thiên Chúa, Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô, phải tái khám phá ra sứ điệp Tin Mừng, để đưa nó vào sâu hơn trong tâm trí và trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Đức Tin của Hội Thánh (31 tháng 10, 2012)
Tôi không thể xây dựng đức tin cá nhân của tôi trong một cuộc đối thoại riêng tư với Chúa Giêsu, bởi vì đức tin được Thiên Chúa ban cho tôi qua một cộng đồng các tín hữu là Hội Thánh, và tôi được kể vào số các tín hữu trong một cộng đồng, không chỉ thuộc về xã hội, nhưng được bắt nguồn từ tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, mà trong Ngài là sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là tình yêu của Ba Ngôi. Đức tin của chúng ta chỉ thực sự là của cá nhân khi nó cũng là của cộng đồng: nó chỉ có thể là đức tin của tôi, chỉ khi nó sống và di động trong cái “chúng ta” của Hội Thánh, chỉ khi nó là đức tin của chúng ta, đức tin chung của một Hội Thánh Duy Nhất.
Vào ngày chúa nhật, khi chúng ta đọc “Tôi tin kính” trong Thánh Lễ, chúng ta xưng mình ở ngôi thứ nhất, nhưng chúng ta tuyên xưng một đức tin duy nhất của cộng đồng. Kinh “Tin Kính” mà mỗi người chúng ta tuyên xưng cách cá nhân được kết lại thành một ca đoàn bao la trải dài trong thời gian và không gian, trong đó có thể nói là mỗi người đóng góp vào một bản hòa âm nhiều bè của đức tin. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo tóm tắt một cách rõ ràng: “Tin” là một hành động của Hội Thánh. Đức tin của Hội Thánh đi trước, sinh ra, nâng đỡ và nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. “Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà không có Hội Thánh là Mẹ” [Thánh Cyprianô]” (số 181). Vì vậy, đức tin được sinh ra trong Hội Thánh, dẫn đến Hội Thánh và sống trong Hội Thánh. Điều này là điều rất quan trọng mà chúng ta cần phải nhớ.
… Do đó, ngay từ ban đầu Hội Thánh là chỗ của đức tin, nơi mà đức tin được truyền thụ, nơi mà qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được dìm vào Mầu Nhiệm Vượt Qua của Cái Chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô, là điều giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và ban cho chúng ta sự tự do của con cái cùng đưa chúng ta vào hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đồng thời, chúng ta được nhận chìm vào sự hiệp thông với các anh chị em khác trong đức tin, với toàn thể Nhiệm Thể Đức Kitô, nhờ cách đó mà chúng ta thoát khỏi sự cô lập của mình. Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng: “Thiên Chúa muốn cứu độ và thánh hóa con người, không phải chỉ như những cá nhân không có một mối liên hệ nào giữa họ; nhưng Ngài muốn biến họ thành một dân, một dân nhận biết Ngài theo chân lý và phục vụ Ngài trong sự thánh thiện” (Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium , 9).
… Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng chính trong cộng đồng Hội Thánh mà đức tin cá nhân phát triển và trưởng thành. … Những người đã có đức tin vào Đức Kitô Phục Sinh và sống đức tin ấy được mời gọi để trở thành mẫu mực (điểm tham chiếu) cho tất cả những người khác, bằng cách giúp họ tiếp xúc với Con Người và Sứ Điệp của Chúa Giêsu, Đấng mạc khải Dung Nhan Thiên Chúa hằng sống. Điều này cũng đúng cho chúng ta: một Kitô hữu để cho mình được đức tin của Hội Thánh từ từ hướng dẫn và hình thành, bất chấp những yếu đuối, giới hạn và khó khăn của mình, người ấy sẽ trở thành như một cửa sổ mở ra cho ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống, nhận được ánh sáng này và truyền nó cho thế giới. Chân Phước Gioan Phaolô II trong Thông điệp Redemptoris missio nói rằng “hoạt động truyền giáo canh tân Hội Thánh, khôi phục đức tin và căn tính Kitô giáo, cùng cung cấp nhiệt tình mới và động lực mới. Đức tin được củng cố bằng cách cho đi!” (số 2).
Do đó, xu hướng hiện đại được lan tràn rộng rãi, là giới hạn đức tin vào lĩnh vực riêng tư, mâu thuẫn với bản chất của chính đức tin. Chúng ta cần Hội Thánh xác nhận đức tin của mình và cảm nghiệm những hồng ân của Thiên Chúa: Lời Ngài, các Bí Tích, sư trợ giúp của ân sủng và chứng tá tình yêu. Vì vậy, trong cái “chúng ta” của Hội Thánh, cái “tôi” của chúng ta sẽ có khả năng nhận ra chính mình như người lãnh nhận và tham dự vào một biến cố vượt trên nó: kinh nghiệm hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng thiết lập sự hiệp thông giữa con người. Trong một thế giới mà trong đó chủ nghĩa cá nhân dường như quy định các mối liên hệ giữa con người, làm cho những liên hệ ấy thành mỏng giòn hơn, đức tin mời gọi chúng ta làm Dân Thiên Chúa, là Hội Thánh, những người mang tình yêu và sự hiệp thông của Thiên Chúa đến cho tất cả nhân loại (xem Gaudium et Spes, 1).