English Handout for Chapter 10 and 11
Bài tóm lược cho Chương 10 và 11
Mục đích của Hội Thánh là đem ánh sáng Ðức Kitô vào thế gian. Hội Thánh không có ánh sáng nào ngoài ánh sáng của Đức Kitô. Hội Thánh được Chúa Thánh Thần ban cho sự thánh thiện. Tin vào một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền được đặt nền tảng trên đức tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần (748-750).
Hội Thánh trong Chương Trình của Thiên Chúa
Danh xưng và hình ảnh của Hội Thánh (751-757)
Chữ “Hội Thánh” là từ Ekklêsia của Hy Lạp có nghĩa là tập họp. Trong Cựu Ước, chữ này chỉ cuộc tập họp của Dân Chúa. Khi xưng là Hội Thánh, cộng đoàn tín hữu tiên khởi nhận mình là thừa kế của cộng đoàn Dân Chúa trong Cựu Ước. Hội Thánh là dân được Thiên Chúa quy tụ từ khắp nơi. Hội Thánh hiện diện trong các cộng đoàn địa phương và thể hiện như một cộng đoàn phụng vụ, đặc biệt là cộng đoàn Thánh Lễ. Hội Thánh sống nhờ Lời và Mình Thánh Ðức Kitô và nhờ đó trở thành Nhiệm Thể Ðức Kitô (751-752).
Biểu hiệu của Hội Thánh – Thánh Kinh dùng nhiều hình ảnh để nói về Hội Thánh: “Dân Thiên Chúa”, “Nhiệm Thể Ðức Kitô”, “chuồng chiên”, “đàn chiên”, “thửa ruộng”, hay “cánh đồng của Thiên Chúa”, “toà nhà của Thiên Chúa”, “thành Giêrusalem trên trời là “mẹ chúng ta”, “hiền thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố”(753-757).
Nguồn gốc, nền tảng, và sứ vụ của Hội Thánh (758-769)
Hội Thánh phát nguồn từ chương trình của Ba Ngôi Thiên Chúa, được thực hiện cách tiệm tiến trong lịch sử. Từ ban đầu, Chúa Cha muốn qui tụ những kẻ tin Ðức Kitô thành Hội Thánh để cho họ tham dự đời sống thần linh trong Người. “Gia đình” này được thành lập và thực hiện tuần tự qua các giai đoạn của lịch sử loài người, theo sự an bài của Ngài.(758-759)
Hội Thánh được báo trước từ tạo thiên lập địa – Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ để được hiệp thông vào đời sống thần linh của Ngài; sự hiệp thông này được thể hiện bằng cách “triệu tập” loài người trong Ðức Kitô; sự “triệu tập” đó chính là Hội Thánh. Hội Thánh là cùng đích của mọi sự(760).
Hội Thánh được chuẩn bị trong Cựu Ước – Thiên Chúa đã sửa soạn cho Hội Thánh bằng cách kêu gọi ông Abraham, và chọn Israel làm Dân Ngài, cùng loan báo qua các ngôn sứ một giao ước mới vĩnh viễn do Ðức Kitô thiết lập (761-762).
Chúa Giêsu đã lập ra Hội Thánh bằng việc rao giảng Tin Mừng. Những người đón nhận Tin Mừng ấy họp thành gia đình đích thực của Người. Người đã dạy họ một “cách sống mới” và một kinh nguyện riêng. Người thiết lập một cộng đoàn có cơ cấu, và sẽ tồn tại đến khi Nước Trời được hoàn thành. Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh. Người ban sự sống cho Hội Thánh qua việc hiến thân hoàn toàn để cứu độ chúng ta; sự hiến thân này được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và sau đó trên Thập Giá (763-766).
Chúa Thánh Thần bày tỏ Hội Thánh – Đức Kitôbày tỏ Hội Thánh cho thế gian qua việc gửi Chúa Thánh Thần xuống trong Lễ Ngũ Tuần. Khi ấy Hội Thánh được công khai giới thiệu cho nhân loại, và Tin Mừng bắt đầu được rao giảng cho muôn dân. Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh và ban các đặc sủng, cũng như trang bị và điều khiển Hội Thánh bằng nhiều ân huệ phẩm trật và các đặc sủng khác nhau. Hội Thánh lãnh nhận sứ mạng rao truyền và thiết lập Nước Thiên Chúa nơi mọi dân tộc. Hội Thánh là mầm mống và khai nguyên của Nước ấy trên trần gian. Hội Thánh chỉ được hoàn thành trong vinh quang trên trời, trong ngày Ðức Kitô trở lại. Từ nay đến đó, “Hội Thánh vẫn tiến bước trên đường hành hương, bị thế gian bách hại và được Thiên Chúa an ủi”. Hội Thánh sẽ phải trải qua nhiều thử thách lớn lao trước khi đạt tới vinh quang viên mãn; và nhờ Hội Thánh, thế giới cũng được vinh quang (767-769).
Mầu Nhiệm của Hội Thánh (770-780)
Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng vượt trên lịch sử. Chúng ta chỉ có thể thấy được thực tại thiêng liêng nơi Hội Thánh bằng con mắt đức tin (770).
Hội Thánh vừa hữu hình vừa thiêng liêng – Hội Thánh là một xã hội có tổ chức hữu hình theo phẩm trật và là Nhiệm Thể Ðức Kitô, đồng thời cũng là một cộng đoàn thiêng liêng được trang bị những ân sủng bởi trời. Tuy nhiên, trong Hội Thánh, yếu tố nhân loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh; những thực tại hữu hình quy hướng về những thực tại vô hình (771).
Hội Thánh là mầu nhiệm con người kết hợp với Thiên Chúa – Sự kết hợp này được thánh Phaolô gọi là “mầu nhiệm cao cả”. Mục đích của Hội Thánh là giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa qua đức ái. Mục đích ấy chi phối tất cả những gì là phương tiện mang tính bí tích, gắn liền với thế giới này. Ðức Kitô hiện diện trong Hội thánh, nơi chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa qua đời sống thánh thiện bằng cách noi theo Ðức Mẹ, mẫu gương của Hội Thánh (772-773).
Bí Tích Cứu Độ phổ quát – Tiếng La tinh dùng hai từ Mysterium (mầu nhiệm) và Sacramemtum (bí tích) để dịch chữ Mysterion của Hy lạp. Về sau, người ta phân biệt chữ Sacramentum để diễn tả dấu chỉ hữu hình của ơn cứu độ; và chữ Mysterium diễn tả ơn cứu độ ẩn giấu dưới dấu chỉ hữu hình đó. Theo nghĩa này, chính Ðức Kitô là mầu nhiệm cứu độ. Hội Thánh là bí tích, là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp giữa con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại. Vì là bí tích, Hội Thánh cũng là khí cụ của Ðức Kitô để cứu chuộc mọi người”, như “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (774-780).
Hội Thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền
Hội Thánh có bốn đặc điểm là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Bốn đặc điểm này là những nét đặc thù của Hội Thánh đã được bày tỏ qua dòng lịch sử. Nhờ những đặc điểm này mà chúng ta nhận ra Hội Thánh là Nhiệm Thể Ðức Kitô (811-812).
Hội Thánh Duy Nhất (813-822)
Hội Thánh duy nhất vì bắt nguồn từ Thiên Chúa Duy Nhất, có vị Sáng Lập là Ðức Kitô, và linh hồn là Chúa Thánh Thần. Các phần tử được liên kết với nhau bằng đức ái, một đức tin duy nhất, việc phụng tự chung, nhất là các bí tích, và qua việc kế vị các Tông Đồ của các giám mục. Hội Thánh chân chính do Chúa Giêsu thiết lập được tồn tại nơi Hội Thánh Công Giáo. Vì chỉ qua Hội Thánh Công Giáo mới đạt được đầy đủ các phương tiện cứu độ (813-816).
Ngay từ thời sơ khai đã có ít nhiều rạn nứt trong Hội Thánh. Sau đó có nhiều phân rẽ trầm trọng hơn và nhiều cộng đoàn đã ly khai khỏi Hội Thánh Công Giáo, đôi khi tại lỗi của những người ở cả hai bên. Những đoạn tuyệt làm tổn thương sự hiệp nhất của Nhiệm Thể Ðức Kitô là do tội lỗi gây ra. Ngày nay những người sinh trưởng trong các cộng đoàn ấy không thể bị kết tội chia rẽ, và được Hội Thánh kính trọng và yêu thương như anh em. Ðược công chính hóa và tháp nhập vào Ðức Kitô nhờ đức tin khi chịu Phép Rửa, họ có quyền mang danh Kitô hữu. Các giáo hội của họ cũng chứa đựng “nhiều yếu tố thánh hóa và chân lý” không nằm trong giới hạn hữu hình của Hội Thánh Công Giáo. Chúa Thánh Thần dùng những giáo hội và cộng đoàn ấy như những phương tiện cứu độ có sức mạnh xuất phát từ sự sung mãn của ân sủng và của chân lý mà Ðức Kitô đã trao phó cho Hội Thánh Công Giáo (817-819).
Ðức Kitô mời gọi sự hiệp nhất hoàn toàn giữa những ai theo Người. Chúng ta phải đáp trả bằng cách canh tân thường xuyên, hoán cải tận tâm hồn, bằng cầu nguyện chung, bằng hiểu biết nhau trong tình huynh đệ, qua việc huấn luyện đại đồng, đối thoại giữa các thần học gia, hợp tác trong các việc bác ái. Vì việc hợp nhất hoàn hảo vượt quá khả năng loài người, chúng ta phải đặt hết hy vọng vào Ðức Kitô là Ðấng duy nhất có thể làm cho chúng ta nên một (820-822).
Hội Thánh Thánh Thiện (823-827)
Hội Thánh thánh thiện vì nhờ kết hợp với Ðức Kitô nên được Người thánh hóa, và được ban đủ các phương tiện cứu độ mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa chúng ta. Sự thánh thiên của Hội Thánh nơi trần thế dù thật sự, nhưng chưa hoàn hảo. Chúng ta phải cố gắng trở nên hoàn thiện bằng cách noi gương Ðức Kitô, Ðấng hoàn toàn thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, không hề phạm tội, nhưng đã nhận chúng ta vào Hội Thánh Người để giúp chúng ta sám hối và canh tân. Trong cố gắng này, chúng ta có các thánh, nhất là Đức Mẹ, làm gương mẫu thánh thiện, nhân đức và trung tín để noi theo.
Hội Thánh Công Giáo (830-856)
“Công Giáo” là phổ quát theo nghĩa toàn diện. Hội Thánh là Công Giáo vì được Ðức Kitô hiện diện ở đó, trao trọn vẹn các phương tiện cứu độ theo ý Người, và sai đến với toàn thể nhân loại (830-831).
Mỗi giáo hội địa phương hiệp thông trong đức tin và bí tích với giám mục là công giáo trọn vẹn khi thông hiệp với Hội Thánh Rôma. Hội Thánh phổ quát không phải chỉ là một liên minh các giáo hội địa phương, nhưng do ơn gọi và sứ mạng, được mọc rễ trong những mảnh đất văn hóa, xã hội, dân tộc khác nhau, nên có những bộ mặt và những cách diễn tả khác nhau. Sự đa dạng về kỷ luật, nghi thức phụng vụ,… này càng nói lên đặc tính công giáo của Hội Thánh (832-835).
Hoàn toàn thuộc về Hội Thánh Công Giáo là những người chấp nhận trọn vẹn đức tin, các bí tích, và liên kết với Ðức Kitô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển qua ĐGH và các Giám Mục. Những ai đã lãnh Phép Rửa, nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn hoặc không hiệp thông với ĐGH, thì cũng hiệp thông cách nào đó với Hội Thánh Công Giáo. Với các Hội Thánh Chính Thống, sự hiệp thông này rất sâu đậm (836-838).
Những ai chưa lãnh nhận Tin Mừng cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa: những người Do Thái, dân Thiên Chúa trong Cựu Ước; người Hồi Giáo, tự nhận là giữ đức tin của Abraham, cũng thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Liên hệ giữa Hội Thánh và các tôn giáo ngoài Kitô giáo trước hết căn cứ trên liên hệ giữa loài người với nhau, có cùng một nguồn gốc và một cứu cánh. Hội Thánh nhìn nhận các tôn giáo khác cũng đang tìm kiếm, “trong bóng tối và qua các hình tượng”, Thiên Chúa mà họ không biết nhưng gần gũi. Nhưng trong đời sống tôn giáo, con người có những giới hạn và những sai lầm (839-845).
Hội Thánh khẳng định rằng mọi ơn cứu độ đều phát xuất từ Ðức Kitô là Ðầu, qua Hội Thánh là Nhiệm Thể Người. Hội Thánh này cần thiết cho ơn cứu độ vì chỉ một mình Ðức Kitô là trung gian và là đường cứu độ, và Người hiện diện giữa chúng ta trong Hội Thánh. Vì thế, những ai biết rằng Hội Thánh Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Ðức Kitô như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không kiên trì sống trong đó thì không được cứu độ. Còn ai vô tình không nhận biết Tin Mừng của Ðức Kitô và Hội Thánh, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, cố gắng chu toàn Thánh Ý Ngài theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời (846-848).
Ðức Kitô truyền cho Hội Thánh phải rao giảng Tin Mừng cho thế gian. Lệnh này phát sinh từ tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhận biết chân lý. Vì tin vào ý muốn này của Thiên Chúa, nên Hội Thánh phải truyền giáo. Hội Thánh vì đức ái, và được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, đã theo gương Ðức Kitô trong việc truyền giáo (849-856).
Hội Thánh Tông Truyền (857-870)
Hội Thánh tông truyền vì được xây trên nền tảng các Tông Đồ theo 3 nghĩa: (1) được xây trên các Tông Đồ, là những chứng nhân đã được chính Ðức Kitô tuyển chọn và sai đi; (2) gìn giữ và lưu truyền giáo huấn do các Tông Đồ giảng dạy nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần; (3) tiếp tục được giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn qua những người kế vị các Tông Đồ (857).
Sứ vụ các Tông Đồ – Các Tông Ðồ là những người được Ðức Kitô sai đi để tiếp tục sứ mạng của Người. Các ngài nhận quyền năng từ Người và là thừa tác viên của Người để ban phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Các ngài có nhiệm vụ là làm nhân chứng cho cuộc Phục Sinh của Người và là nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ này không truyền lại được. Còn nhiệm vụ “làm cho muôn dân thành môn đệ” phải được truyền lại cho đến tận thế (858-860).
Giám mục – kế vị các Tông Đồ – Để có những người xứng đáng tiếp tục thừa tác vụ của các ngài, các Tông Ðồ đã đặt các giám mục lên kế vị, và ban quyền cho họ. Vì thế, Hội Thánh dạy rằng: Chính Chúa đã lập các giám mục kế vị các Tông Đồ làm mục tử Hội Thánh. Nên ai nghe các ngài là nghe Ðức Kitô, còn ai khinh chê các ngài là khinh chê Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người (861-862).
Việc tông đồ – Hội Thánh có tính tông truyền vì hiệp thông trong đức tin và sự sống với nguồn cội của mình nhờ các đấng kế vị thánh Phêrô và các Tông Ðồ. Hội Thánh còn mang tính tông truyền vì tất cả các phần tử của Hội Thánh đều được sai đi. Sự thành công của việc tông đồ của mỗi người tùy thuộc vào sự kết hợp sống động của họ với Ðức Kitô, với các ơn Chúa Thánh Thần, và đức ái được nuôi dưỡng đặt biệt nhờ bí tích Thánh Thể. Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền trong căn tính sâu xa và tối hậu của mình, vì nơi Hội Thánh, Nước Trời đã hiện hữu và sẽ hoàn tất trong ngày tận thế. Hội Thánh không ngừng cố gắng xây dựng NướcTrời dưới thế, luôn tin tưởng rằng tình yêu của Ðức Kitô sẽ làm cho Hội Thánh nên hoàn hảo, để xứng đáng là Hiền Thê của Người trên Thiên Quốc (863-870).
Các Câu Hỏi để Suy Nghĩ và Thảo Luận
- Nguồn gốc và nền tảng của Hội Thánh là gì?
- Hội Thánh được thành lập nhằm mục đích gì? Nghĩa là, sứ vụ cơ bản của Hội Thánh là gì?
- Phạm vi của sứ vụ Hội Thánh là gì? Ai nhân danh Hội Thánh để thực hiện sứ vụ này?
- Hội Thánh “Duy Nhất” có nghĩa gì? Làm sao cắt nghĩa điều này khi trên thực tế có nhiều yếu tố thánh hóa được tìm thấy bên ngoài giới hạn hữu hình của Hội Thánh Công giáo?
- Hội Thánh “Thánh Thiện” có nghĩa gì? Làm sao có thể cắt nghĩa điều này khi trên thực tế tất cả các phần tử của Hội Thánh, kể cả các nhà lãnh đạo, đều là những người tội lỗi?
- Hội Thánh “Công Giáo” có nghĩa gì? Tính công giáo này của Hội Thánh liên quan đến những người không phải là phần tử theo nghĩa đầy đủ và trọn vẹn thế nào?
- Hội Thánh “Tông Truyền” có nghĩa gì? Các giám mục đóng vai trò gì trong lĩnh vực này?
- Hội Thánh là “Dân Thiên Chúa” có nghĩa gì?
Bài Đọc Thêm
Hội Thánh theo Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo
ĐTC Phanxicô: Thực Tại Hữu Hình và Thiêng Liêng của Hội Thánh
ĐTC Phanxicô: Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô
ĐTC Phanxicô: Hãy Trở Thành Những Công Cụ của Hiệp Nhất và Hiệp Thông