CHƯƠNG 11 – HỘI THÁNH CÔNG GIÁO – PHẦN 2

Hội Thánh – Dân Thiên Chúa, Nhiệm Thể Ðức Kitô,  Ðền Thờ Chúa Thánh Thần

I.                  Hội Thánh – Dân Thiên Chúa (781-766)

Thiên Chúa muốn qui tụ con người thành một dân tộc để họ nhận biết và phụng sự Ngài, nên Ngài đã chọn dân Israel và thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần… để chuẩn bị cho một Giao Ước mới hoàn hảo trong máu Ðức Kitô với toàn thể nhân loại trong Chúa Thánh Thần (781).

Đặc tính của Dân Thiên Chúa – Hội Thánh là dân Thiên Chúa qua Ðức Tin và Phép Rửa, có vị Thủ Lãnh là Ðức Kitô, và các phần tử đều là con cái Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ.  Luật của họ là giới răn mới: “yêu nhau như chính Ðức Kitô đã yêu chúng ta”.   Sứ mạng họ là làm muối đất và ánh sáng thế gian.   Cứu cánh họ là “Nước Thiên Chúa được khai nguyên trên trần gian và lan rộng, cho đến khi được chính Người hoàn tất trong ngày tận thế.”(782)

Một dân Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Giả – Vì Chúa Giêsu được xức dầu làm tư tế, ngôn sứ và vua, nên dân Chúa cũng là một dân tư tế, ngôn sứ và vương giả qua việc thờ kính Thiên Chúa, làm chứng cho Tin Mừng, và phục vụ tha nhân (783-766).

II.               Hội Thánh – Nhiệm Thể Ðức Kitô (787-876)

Hiệp thông với Đức Kitô – Chúa Giêsu mời gọi những ai theo Người kết hợp với Người và với nhau; Người là cây nho, và chúng ta là cành. Chúng ta được nên một với Người trong Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (787-789).

Một Thân Thể – Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được kết hợp với Ðức Kitô trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, và nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta được ở trong Người, và được liên kêt với nhau.  Sự hiệp nhất của Nhiệm Thể làm phát sinh và thúc đẩy lòng bác ái giữa các tín hữu. Sự hiệp nhất này vượt qua mọi chia rẽ của loài người (790-791).

Ðức Kitô là Đầu – Ngườikết hợp chúng ta vào cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh của Người, và giúp chúng ta tăng trưởng, để chúng ta lớn lên vươn tới Người là Ðầu. Người hợp với Hội Thánh làm thành “Ðức Kitô toàn diện” (792-795).

Hiền Thê của Đức Kitô – Dù là một Nhiệm Thể của Ðức Kitô, nhưng vẫn còn sự khác biệt giữa Người và chúng ta.  Sự khác biệt này được diễn tả qua hình ảnh Ðức Kitô như một Phu Quân và Hội Thánh là Hiền Thê của Người (796).

III.            Hội Thánh –  Ðền Thờ Chúa Thánh Thần (799-810)

Chúa Thánh Thần chính là “linh hồn” của Nhiệm Thể Ðức Kitô.  Ngài ở trong Ðầu và chi thể để biến chúng ta nên một.  Ngài là “nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự cứu độ trong từng thành phần của Thân Thể”.   Ngài tác động chúng ta qua các bí tích, ân sủng, các nhân đức, và các đặc sủng.  Các đặc sủng là những ơn Chúa Thánh Thần để xây dựng Hội Thánh, mưu ích cho loài người và đáp ứng những nhu cầu của thế giới.  Ðó là nguồn ân sủng phong phú kỳ diệu cho sức sống tông đồ và cho sự thánh thiện của tất cả Nhiệm Thể Ðức Kitô.  Không đặc sủng nào cho phép tín hữu khỏi phải tôn trọng và tuân phục các mục tử của Hội Thánh.

Kitô hữu – Phẩm Trật, Giáo Dân, Ðời Thánh Hiến

Kitô hữu là những người được gia nhập Nhiệm Thể Ðức Kitô qua bí tích Thánh Tẩy nên được tham gia vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Người.  Chúa muốn mỗi chi thể trong Nhiệm Thể này có những nhiệm vụ khác nhau để phục vụ sự hiệp nhất và sứ mạng của Hội Thánh.  Người đã trao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài nhiệm vụ nhân danh và lấy quyền của Người mà giảng dạy, thánh hóa và quản trị.  Còn giáo dân cũng đảm nhận phần vụ của mình trong sứ mạng chung của toàn Dân Thiên Chúa trong Hội Thánh và ở giữa trần gian (871-873).

I.                  Cơ cấu phẩm trật Hội Thánh (874-896)

Thừa tác vụ Hội Thánh – Chính Ðức Kitô đã thiết lập, trao quyền, sứ vụ, đường hướng và mục đích cho các thừa tác vụ Hội Thánh.  Không ai có thể tự cho mình quyền này.  Phải có các thừa tác viên được Chúa trao quyền phân phát các ân sủng Ngài ban. Thừa tác vụ này là “bí tích”.  Cũng vậy, đặc tính tập đoàn phát xuất từ bản tính bí tích của thừa tác vụ Hội Thánh.  Do bản tính này, các thừa tác vụ này còn có đặc tính cá nhân vì mỗi người được gọi đích danh.  Vậy, thừa tác vụ bí tích trong Hội Thánh là việc phục vụ nhân danh Ðức Kitô, vừa có tính cá nhân vừa có tính tập thể (874-879).

Giám Mục Ðoàn và thủ lãnh là ÐGH – Ðức Kitô họp các Tông Ðồ thành nhóm Mười Hai như một tập đoàn.  Người đặt Thánh Phêrô làm đầu.  ÐGH là đấng kế vị Thánh Phêrô, và các giám mục kế vị các Tông Ðồ, nên nhiệm vụ chủ chăn của họ từ Ðức Kitô mà ra.  ĐGH đại diện Người, nhân danh Người mà thực thi quyền hành trên toàn Hội Thánh.  Giám Mục Ðoàn cũng có quyền trọn vẹn và tối cao trên toàn Hội Thánh khi hiệp nhất với ĐGH. Quyền này được thi hành cách trọng thể trong các Công Ðồng Chung được ĐGH công nhận.  Giám Mục Ðoàn liên kết với ĐGH diễn tả đặc tính đa dạng, phổ quát và hiệp nhất của Dân Chúa.  Mỗi giám mục lãnh đạo một giáo phận, với sự trợ tá của các linh mục và phó tế.  Các ngài cũng có bổn phận chia sẻ những quan tâm của các giáo phận khác.  Các ngài phải quan tâm đến những người nghèo, bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn thế giới.  Các giáo phận lân cận hợp thành giáo tỉnh, và giáo miền.  Các giám mục thuộc những giáo miển có thể họp hội nghị hay công đồng địa phương (880-887).

Nhiệm vụ giáo huấn – Các giám mục và linh mục có nhiệm vụ giáo huấn, loan báo Tin Mừng.  Họ phải đem chân lý của Ðức Kitô đến cho thế gian.  Ðể gìn giữ đức tin do các Tông Đồ truyền lại, Ðức Kitô cho Hội Thánh ơn bất khả ngộ.  Ðặc sủng này được hành xử bởi ĐGH, khi với tư cách là mục tử và thầy dạy tối cao của mọi Kitô hữu, để củng cố anh em trong đức tin, ngài công bố một giáo thuyết về đức tin và luân lý bằng một phán quyết chung thẩm.  Ơn này cũng được ban cho Giám Mục Ðoàn, khi các ngài thi hành huấn quyền tối thượng kết hợp ĐGH, nhất là trong một Công Ðồng Chung.  Khi Hội Thánh dùng Huấn Quyền tối thượng để đề ra một điều gì “phải tin bởi do Thiên Chúa mặc khải”, thì chúng ta phải vâng phục bằng sự vâng phục trong đức tin.  Ngoài ra khi ĐGH hay các giám mục dùng huấn quyền thông thường đề ra một giáo huấn giúp hiểu rõ mặc khải hơn về đức tin và luân lý, chúng ta vẫn phải vâng theo với lòng kính cẩn.  Không vâng phục các tín điều là lạc giáo.  Không vâng phục các giáo huấn thông thường có thể là dấu thiếu đức tin, nhưng chưa phải là lạc giáo (888-892).

Nhiệm vụ thánh hóa – Các giám mục và linh mục có nhiệm vụ thánh hóa Hội Thánh bằng Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, cũng như bằng cầu nguyện, việc làm, và gương sang (893).

Nhiệm vụ cai quản –  Các ngài cũng có nhiệm vụ cai quản và hướng dẫn Hội Thánh với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế.  Các ngài phải thi hành quyền này trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của ĐGH, và phải lãnh đạo với lòng trắc ẩn, cảm thông, vì gương mẫu của các ngài là Ðức Kitô (894-896).

II.               Các tín hữu giáo dân (879-913)

Hội Thánh chủ yếu là một tổ chức của giáo dân – các thành viên chính của Hội Thánh, các tín hữu đã được rửa tội và thêm sức, là những người có trách nhiệm chính nằm ngoài khuôn viên nhà thờ. Giáo dân là tất cả các Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ hay bậc tu trì được Hội Thánh công nhận.  Họ là những người đang thi hành sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình (897). 

Hội thánh hiện hữu để mang sự sống và tình yêu của Đức Kitô vào thế gian, và các thành viên giáo dân của Hội Thánh sống và làm việc trong thế gian. Do đó, giáo dân chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi sứ mệnh của Hội Thánh trong thế gian.

Một trong những trách nhiệm chính của HT là giúp giáo dân thi hành nhiệm vụ của họ với tư cách là giáo dân trên thế gian.

Các thừa tác viên của HT, dù là giáo sĩ hay giáo dân làm việc trong HT, phục vụ cơ thể chung là các chi thể của Hội Thánh; họ sinh động hoá và hỗ trợ các chi thể thực thi sứ vụ làm chứng và hành động của Hội Thánh trên thế gian.

Ơn gọi của giáo dân là tìm kiếm Nước Chúa bằng cách chu toàn nhiệm vụ trần thế theo ý Chúa.  Họ đứng ở tuyến đầu của Hội Thánh.  Nhiệm vụ của họ là đem Ðức Kitô vào các lãnh vực xã hội, chính trị, kinh tế, và văn hóa của nhân loại. Qua bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, họ có quyền và bổn phận truyền đạt sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa.  Trong các cộng đoàn Hội Thánh, hoạt động của họ cần thiết vì không có họ thì việc Tông Đồ của các mục tử hầu như không thể đạt được hiệu quả trọn vẹn (898-900).

Giáo dân Tham gia vào nhiệm vụ tư tế của Đức Kitô bằng cách kết hợp đời sống, cầu nguyện, việc làm,…, và các khốn khó họ gặp với Ðức Kitô, dâng tất cả cho Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể.  Họ cũng có thể lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo luật định (901-903).

Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ ngôn sứ của Đức Kitô bằng gương sáng và lời nói.  Họ có thể dạy giáo lý, thần học, ….  Họ có quyền và có bổn phận bày tỏ cho các mục tử hay các tín hữu khác những ý kiến của họ liên quan đến lợi ích của Hội Thánh, miễn là bảo vệ sự vẹn toàn của đức tin và phong hóa, cũng như sự tôn kính đối với các mục tử, và quan tâm đến công ích và phẩm giá của tha nhân (904-907).

Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ vương giả của Đức Kitô bằng cách chiến thắng tội lỗi nơi bản thân và trong thế gian.  Họ cũng có thể cộng tác với các mục tử phục vụ cho sự sống và tăng trưởng của cộng đoàn bằng cách thi hành các thừa tác vụ khác nhau tùy theo ân sủng Chúa ban.  Họ phải cố gắng hòa hợp quyền lợi và nghĩa vụ của họ như là một phần tử của Hội Thánh với quyền lợi và nghĩa vụ như là một phần tử của xã hội.  Trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm Kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì mọi hoạt động của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, đều ở dưới quyền của Thiên Chúa (908-913).

III.            Ðời thánh hiến (914-945)

Ðời thánh hiến là bậc sống được thành lập do việc khấn giữ các lời khuyên của Tin Mừng, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật, nhưng vẫn thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh (914).

Các lời khuyên của Tin Mừng – Những ai tự nguyện sống đời tận hiến, buộc giữ các lời khuyên của Tin Mừng là vâng lời, khó nghèo, và khiết tịnh vì Nước Trời.  Trong đời thánh hiến, dưới tác động của Thánh Thần, họ sẵn sàng theo sát Ðức Kitô hơn, tự hiến cho Thiên Chúa và theo đuổi đức ái hoàn hảo để phục vụ Nước Trời (915-916).

Như một cây lớn có nhiều cành, trong Hội Thánh phát sinh nhiều dòng tu khác nhau mà gia sản thiêng liêng của họ vừa ích lợi cho họ vừa ích lợi cho tất cả Hội Thánh.  Chỉ Tòa Thánh mới có quyền phê chuẩn những hình thức mới của đời thánh hiến (917-919).

Các vị ẩn tu dâng hiến cuộc đời để sống mật thiết với Ðức Kitô, ngợi khen Thiên Chúa và cứu độ thế gian, qua việc triệt để lánh xa trần thế, giữ yên lặng, cầu nguyện liên lỉ và sống khổ hạnh đền tội (920-921). 

Các trinh nữ và góa phụ được thánh hiến sống trong bậc đồng trinh hoặc khiết tịnh vĩnh viễn vì Nước Trời.  Họ được giám mục giáo phận theo nghi thức phụng vụ phê chuẩn, và thánh hiến cho Thiên Chúa.  Các trinh nữ sống đời thánh hiến có thể lập hội để thực thi ý định của họ cách trung thành hơn nhờ sự trợ giúp lẫn nhau (922-924).

Các dòng tu được phân biệt với những hình thức khác của đời thánh hiến ở các điểm: tổ chức đời sống phụng tự, công khai khấn giữ các lời khuyên của Tin Mừng, sống huynh đệ, làm chứng cho sự kết hợp giữa Ðức Kitô với Hội Thánh.  Tất cả các tu sĩ đều phải hợp tác với đức giám mục giáo phận.  Các dòng tu rất cần thiết cho việc khai nguyên và phát triển truyền giáo của Hội Thánh (925-927).

Các tu hội đời là các hội sống đời thánh hiến giữa đời, hướng tới đức ái trọn hảo và nỗ lực góp phần thánh hóa trần gian giữa lòng đời.  Chứng từ đời sống Kitô hữu của họ nhằm chỉnh đốn những thực tại trần thế theo ý Chúa và đưa Tin Mừng vào thế gian (928-929).

Các hiệp hội Tông Đồ gồm các thành viên không có lời khấn, nhưng theo đuổi nhiệm vụ tông đồ của hội và bằng đời sống chung trong tình huynh đệ; họ hướng tới Ðức Ái hoàn hảo theo nếp sống riêng của họ nhờ việc tuyên giữ hiến chương của hội.  Họ có thể có lời khấn (930).

Thánh hiến và truyền giáo – Những người trong bậc thánh hiến có nghĩa vụ truyền giáo theo cách thức riêng của tu hội mình.  Họ khuyến khích anh em bằng gương sáng, và tỏ lộ cách hoàn hảo hơn cho mọi tín hữu thấy của cải trên trời đã có ngay dưới trần gian này, và làm chứng rằng ơn cứu chuộc của Ðức Kitô đã đem lại một đời sống mới và vĩnh cửu, cùng tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời (931-945).

Bài Đọc Thêm

  1. Giáo Lý về Hội Thánh – 2
  2. Hội Thánh Phẩm Trật của ĐTC Phanxicô
  3. Mẹ Hội Thánh của ĐTC Phanxicô
  4. Ơn gọi nên thánh Phổ Quát của ĐTC Phanxicô
  5. PowerPoint Presentation 12