DANH XƯNG VÀ HÌNH ẢNH VỀ HỘI THÁNH
751. “Hội Thánh” trong tiếng La tinh là Ecclesia (tiếng Hy lạp là Ekklèsia, Ek-kalein, “gọi ra, triệu tập”) có nghĩa là “một cuộc triệu tập”. Danh từ này được dùng để chỉ một cuộc tập họp dân chúng124, thông thường mang tính chất tôn giáo. Từ này thường được bản Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp sử dụng để chỉ việc tập họp dân Chúa chọn trước mặt Thiên Chúa, nhất là cuộc tập họp ở núi Sinai khi Israel lãnh nhận Lề luật và được Thiên Chúa thiết lập làm dân thánh của Ngài125. Khi gọi mình là “Ecclesia” (Hội Thánh), cộng đoàn tiên khởi của những người tin vào Đức Kitô tự nhận mình là thừa kế của cuộc tập họp dân Chúa trong Cựu Ước. Trong cộng đoàn mới này, Thiên Chúa “triệu tập” dân của Ngài từ khắp cùng cõi đất. Từ “Kyriakè”, từ gốc của “Church” trong tiếng Anh, và “Kirche” trong tiếng Đức, có nghĩa là “điều thuộc về Chúa”.
752. Trong ngôn ngữ Kitô giáo, từ Ecclesia (Hội Thánh) dùng để chỉ một cuộc tập họp phụng vụ126, nhưng cũng để chỉ một cộng đoàn các tín hữu ở một địa phương127 và toàn thể cộng đoàn các tín hữu trên khắp thế giới128. Ba nghĩa này thật ra không thể tách biệt nhau. “Hội Thánh” là dân được Thiên Chúa quy tụ từ khắp thế gian. Hội Thánh hiện diện trong những cộng đoàn địa phương và trở nên hiện thực trong một cộng đoàn phụng vụ, đặc biệt là cộng đoàn cử hành Thánh Thể. Hội Thánh sống nhờ Lời và Mình Thánh Đức Kitô và như vậy, Hội Thánh trở thành Thân Thể Đức Kitô.
Các biểu tượng về Hội Thánh
753. Trong Thánh Kinh, chúng ta gặp nhiều hình ảnh và biểu tượng có tương quan mật thiết với nhau, được Mạc Khải dùng để nói về mầu nhiệm khôn lường của Hội Thánh. Các hình ảnh trong Cựu ước đều là những biến thể của một ý tưởng căn bản, ý tưởng về “dân Thiên Chúa”. Trong Tân Ước129, tất cả những hình ảnh này có một tâm điểm mới là Đức Kitô, Đấng trở thành “Đầu” của dân này130, một dân từ nay là Thân Thể của Người. Chung quanh tâm điểm đó, những hình ảnh được tổng hợp “rút ra hoặc từ đời sống chăn nuôi hay trồng trọt, hoặc từ việc xây dựng, hoặc từ đời sống gia đình và hôn nhân”131.
754. “Quả thật, Hội Thánh là chuồng chiên mà cửa vào duy nhất và cần thiết của chuồng chiên đó là Đức Kitô132. Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Ngài sẽ là mục tử của đàn chiên đó133, và những con chiên của đàn ấy, tuy do các mục tử phàm nhân chăn dắt, nhưng luôn được dẫn dắt và nuôi dưỡng bởi chính Đức Kitô, vị Mục tử nhân lành và Thủ lãnh các mục tử134, Đấng đã hiến mạng sống mình cho các con chiên135”136.
755. “Hội Thánh là thửa ruộng, hay nhờ Hội Thánh, và không có Người, chúng ta không thể làm gì được140”141.
756. “Hội Thánh cũng thường được gọi là toà nhà của Thiên Chúa.142 Chính Chúa đã tự ví Người như viên đá mà các thợ xây nhà loại bỏ, nhưng đã trở nên viên đá góc tường (Mt 21,42 và ss; Cv 4,11; 1 Pr 2,7; Tv 118,22). Trên nền móng này, Hội Thánh được xây dựng bởi các Tông Đồ143 và nhờ nền móng này Hội Thánh có được sự vững vàng và kết cấu. Toà nhà này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: nhà Thiên Chúa144 nơi gia đình của Ngài cư ngụ, chỗ ở của Thiên Chúa trong Thần Khí145, lều của Thiên Chúa giữa loài người146, và nhất là Đền thánh, được tượng trưng bằng các đền thánh bằng đá được các Thánh Giáo phụ ca tụng, và trong phụng vụ được so sánh, một cách không phải vô lý, với Thành thánh, là Giêrusalem mới. Quả thật, ở trần gian này, chúng ta như những viên đá sống động được sử dụng để xây nên Thành thánh đó147. Ông Gioan đã chiêm ngưỡng Thành thánh đó từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống trong cuộc canh tân trần gian, ‘sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang’ (Kh 21,1-2)”148.
757. “Hội Thánh cũng được gọi là ‘thành Giêrusalem trên trời’, và ‘Mẹ chúng ta’ (Gl 4,26)149; được mô tả như Hiền Thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố150, được Đức Kitô ‘yêu thương và hiến mình để thánh hóa’ (Ep 5,25-26), được Người kết hợp bằng một giao ước bất khả tiêu hủy, và được Người ‘nuôi nấng và chăm sóc’ không ngừng (Ep 5,29)”151.
NGUỒN GỐC, NỀN TẢNG VÀ SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH
758. Để tìm hiểu mầu nhiệm Hội Thánh, trước hết cần phải suy tư về nguồn gốc của Hội Thánh trong kế hoạch của Ba Ngôi Chí Tánh rồi việc Hội Thánh được hình thành dần dần trong lịch sử.
Một kế hoạch xuất phát từ trái tim của Chúa Cha
759. “Chúa Cha hằng hữu, bởi kế hoạch hoàn toàn tự do và bí nhiệm do sự khôn ngoan và nhân hậu của Ngài, đã tạo dựng trần gian, đã quyết định nâng người ta lên cho tham dự đời sống thần linh”, Ngài kêu gọi mọi người tới đời sống đó trong Con của Ngài. “Ngài đã quyết định tập họp những người tin vào Đức Kitô thành Hội Thánh thánh thiện”. “Gia đình” này “của Thiên Chúa” được thiết lập và từng bước được hình thành qua các giai đoạn của lịch sử nhân loại theo sự an bài của Chúa Cha: Thật vậy, “Hội Thánh đã được hình dung trước, từ lúc khởi đầu trần gian, được chuẩn bị một cách kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong Giao Ước cũ, được thiết lập trong thời đại cuối cùng, được tỏ hiện bằng việc Thần Khí được tuôn đổ, và sẽ được hoàn tất cách vinh hiển vào lúc tận thế”152.
Hội Thánh được hình dung trước, từ lúc khởi đầu trần gian
760. Các Kitô hữu thời sơ khai cho rằng: “Trần gian đã được tạo dựng vì Hội Thánh”153. Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian để trần gian được hiệp thông vào đời sống thần linh của Ngài, sự hiệp thông này được thực hiện qua việc “triệu tập” người ta trong Đức Kitô, và “sự triệu tập” này là Hội Thánh. Hội Thánh là mục đích của mọi sự154, và cả những thăng trầm đau thương, như việc các thiên thần sa ngã và loài người phạm tội, đã chẳng được Thiên Chúa cho phép xảy ra nếu như đó không là cơ hội và phương thế để biểu dương toàn thể sức mạnh của cánh tay Ngài, toàn thể mức độ của tình yêu Ngài muốn dành cho trần gian:
“Quả vậy, cũng như ý muốn của Thiên Chúa là một công trình, và công trình đó có tên là trần gian, thì cũng vậy, ý định của Ngài là cứu độ loài người, và công trình cứu độ ấy có tên là Hội Thánh”155.
Hội Thánh được chuẩn bị trong Giao Ước Cũ
761. Việc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu ngay từ lúc tội lỗi phá hủy sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Việc tập họp Hội Thánh là như sự phản ứng của Thiên Chúa trước cảnh hỗn độn do tội lỗi gây ra. Công cuộc tái hợp âm thầm này được thực hiện giữa lòng tất cả các dân tộc: “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10,35)156.
762. Việc chuẩn bị xa cho cuộc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu bằng ơn gọi của ông Abraham, Thiên Chúa hứa cho ông trở thành cha tương lai của một dân tộc vĩ đại157. Việc chuẩn bị gần bắt đầu bằng việc tuyển chọn Israel làm dân Thiên Chúa158. Nhờ việc được tuyển chọn, Israel phải là dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc159. Nhưng các Tiên tri tố cáo Israel đã phản bội Giao ước và đã hành xử như một gái điếm160. Các ngài loan báo một Giao Ước mới và vĩnh cửu161. “Giao ước mới này, chính Đức Kitô đã thiết lập”162
Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập
763. Chúa Con là Đấng thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa Cha vào lúc thời gian đến hồi viên mãn: đó là lý do Người được sai đến163. “Chúa Giêsu đã khởi đầu Hội Thánh của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng, nghĩa là rao giảng Nước Thiên Chúa ngự đến, Nước đã được hứa trong Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ164. Để chu toàn ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần thế. Hội Thánh là Nước của Đức Kitô đã hiện diện trong mầu nhiệm165.
764. “Quả thật, Nước Thiên Chúa sáng tỏ trước mặt mọi người trong lời nói, hành động và sự hiện diện của Đức Kitô”166. Ai đón nhận lời của Chúa Giêsu là đón nhận “chính Nước Thiên Chúa”167. Mầm mống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa là “một đoàn chiên nhỏ bé” (Lc 12,32), gồm những người được Chúa Giêsu đến triệu tập quanh Người và chính Người là mục tử của họ 168. Những người đó họp thành gia đình đích thực của Chúa Giêsu169. Những ai Người đã quy tụ quanh Người, Người đã dạy cho họ một “cách hành động” mới, và cả một kinh nguyện riêng170.
765. Chúa Giêsu đã thiết lập cho cộng đoàn của Người một cơ cấu tồn tại cho tới khi Nước Thiên Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh171. Những vị này, đại diện cho mười hai chi tộc Israel172, là những tảng đá nền móng của Giêrusalem mới173. Nhóm Mười Hai174 và các môn đệ khác175 được tham dự vào sứ vụ của Đức Kitô, vào quyền năng của Người, và cả số phận của Người176. Bằng tất cả các hành động này, Đức Kitô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người.
766. Nhưng Hội Thánh được sinh ra một cách chủ yếu từ việc hiến thân trọn vẹn của Đức Kitô để cứu độ chúng ta, việc hiến thân ấy được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên thập giá. “Sự khởi đầu và tăng trưởng của Hội Thánh được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá”177. “Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Hội Thánh”.178 Như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Hội Thánh được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô chết trên thập giá179.
Hội Thánh – được tỏ hiện bởi Chúa Thánh Thần
767. “Vậy sau khi công trình mà Chúa Cha trao cho Chúa Con thực hiện nơi trần thế đã được hoàn tất, thì Chúa Thánh Thần được sai đến vào ngày lễ Ngũ Tuần, để Ngài thánh hoá Hội Thánh một cách liên lỉ”180. Lúc đó “Hội Thánh được tỏ hiện một cách công khai trước mặt dân chúng, và Tin Mừng bắt đầu được truyền bá cho muôn dân qua việc rao giảng”181. Bởi vì là “cuộc triệu tập” mọi người đến với ơn cứu độ, nên tự bản chất của mình, Hội Thánh có tính chất thừa sai, được Đức Kitô sai đến với mọi dân tộc để làm cho họ thành môn đệ182.
768. Chúa Thánh Thần “dạy dỗ và hướng dẫn Hội Thánh bằng nhiều hồng ân theo phẩm trật và theo đặc sủng”183, để Hội Thánh thực hiện sứ vụ của mình. “Từ đó, được trang bị bằng các hồng ân của Đấng Sáng Lập và trong khi trung thành tuân giữ các giới luật của Người về bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Hội Thánh lãnh nhận sứ vụ loan báo và thiết lập Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa nơi mọi dân tộc, và tạo thành mầm mống và điểm khởi đầu của Nước này trên trái đất”184
MẦU NHIỆM HỘI THÁNH
770. Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng đồng thời siêu việt trên lịch sử. “Chỉ tâm trí được soi sáng bởi đức tin”190 mới có thể nhận ra trong thực tại hữu hình của Hội Thánh một thực tại thiêng liêng mang sự sống thần linh.
Hội Thánh – vừa hữu hình vừa thiêng liêng
771. “Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Hội Thánh của Người, một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến, như một cơ cấu hữu hình nơi trần thế, qua Hội Thánh đó Người ban phát chân lý và ân sủng cho mọi người”. Hội Thánh đồng thời:
- “vừa là một xã hội… có tổ chức theo phẩm trật, vừa là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô”;
- “vừa là một tập thể hữu hình vừa là một cộng đoàn thiêng liêng”; –
- “vừa là một Hội Thánh được phong phú bởi những của cải trần thế vừa là một Hội Thánh được phong phú bởi những của cải thiên quốc”.
Các chiều kích trên đồng thời “cấu thành một thực tại phức hợp duy nhất, kết hợp hai yếu tố nhân loại và thần linh”191:
“Hội Thánh có đặc điểm là vừa mang tính nhân loại vừa mang tính thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành trong hành động vừa siêu thoát trong chiêm niệm, vừa hiện diện trong trần gian vừa xa lạ với trần gian; tuy nhiên, trong Hội Thánh, yếu tố nhân loại quy hướng về yếu tố thần linh và tuỳ thuộc vào đó; yếu tố hữu hình quy hướng về yếu tố vô hình; yếu tố hoạt động quy hướng về yếu tố chiêm niệm, và hiện tại quy hướng về thành đô tương lai mà chúng ta đang tìm kiếm”192.
“Ôi thật khiêm cung! Ôi thật cao trọng! Lều tạm bằng gỗ tùng và thánh điện của Thiên Chúa, lều tạm trần thế và cung điện thiên quốc; ngôi nhà bằng đất sét và lâu đài hoàng gia; thân thể của sự chết và đền thờ của ánh sáng; và sau cùng, đối tượng bị khinh miệt bởi những kẻ kiêu căng, và hiền thê của Đức Kitô! Tôi đen nhưng tôi đẹp, hỡi các thiếu nữ Giêrusalem: mặc dầu lao động và đau khổ của cuộc lưu đày lâu dài làm nàng xanh xao, nhưng nàng lại được trang điểm bằng vẻ đẹp thiên quốc”193
Hội Thánh – mầu nhiệm hợp nhất người ta với Thiên Chúa
772. Trong Hội Thánh, Đức Kitô hoàn thành và mạc khải mầu nhiệm riêng của Người như mục đích của kế hoạch của Thiên Chúa: “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep l,l0). Thánh Phaolô gọi cuộc kết hợp phu phụ của Đức Kitô với Hội Thánh là “một mầu nhiệm cao cả” (Ep 5,32). Bởi vì được kết hợp với Đức Kitô như với Phu Quân của mình194, nên chính Hội Thánh cũng trở thành một mầu nhiệm195. Khi chiêm ngắm mầu nhiệm nơi Hội Thánh, thánh Phaolô đã thốt lên: “Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27).
773. Trong Hội Thánh, sự hiệp thông này giữa người ta với Thiên Chúa nhờ đức mến “không bao giờ mất được” (1 Cr l3,8) là mục đích chi phối tất cả những gì là phương tiện bí tích gắn liền với thế giới đang qua đi này196. “Toàn bộ cơ cấu của Hội Thánh đều hướng về sự thánh thiện của các chi thể của Đức Kitô. Sự thánh thiện ấy lại được xác định theo ‘mầu nhiệm cao cả’, là mầu nhiệm Hiền Thê dùng tặng phẩm tình yêu của riêng mình đáp trả lại tặng phẩm của Đấng Phu Quân”197. Đức Maria trổi vượt tất cả chúng ta về sự thánh thiện, vốn là mầu nhiệm của Hội Thánh, như một Hiền Thê không tỳ ố, không vết nhăn198. Vì vậy, “chiều kích Maria của Hội Thánh trổi vượt trên chiều kích Phêrô”199.
Hội Thánh – bí tích phổ quát của ơn cứu độ
774. Từ mysterion trong tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng La tinh bằng hai từ là mysterium (mầu nhiệm) và sacramentum (bí tích). Trong cách giải thích về sau này, từ sacramentum (bí tích) diễn tả dấu chỉ hữu hình của thực tại ẩn giấu của ơn cứu độ, thực tại ẩn giấu đó được diễn tả bằng từ mysterium (mầu nhiệm). Theo nghĩa này, chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn cứu độ: “Mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô”200. Công trình cứu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn cứu độ. Bí tích này được biểu lộ và hoạt động trong các bí tích của Hội Thánh (mà các Giáo Hội Đông phương cũng gọi là các “mầu nhiệm thánh”). Bảy bí tích là những dấu chỉ và những dụng cụ Chúa Thánh Thần dùng để tuôn đổ ân sủng của Đức Kitô là Đầu, trên Hội Thánh là Thân Thể của Người. Như vậy, Hội Thánh chứa đựng và truyền thông ân sủng vô hình mà mình là dấu chỉ. Trong ý nghĩa loại suy này, chính Hội Thánh được gọi là một “bí tích”.
775. “Trong Đức Kitô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất của toàn thể nhân loại”201: là bí tích của sự kết hợp mật thiết con người với Thiên Chúa: đó là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Bởi vì sự hiệp thông giữa con người bắt rễ trong sự kết hợp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích của sự hợp nhất của nhân loại. Trong Hội Thánh, sự hợp nhất đó đã bắt đầu, bởi vì Hội Thánh quy tụ những người “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9); đồng thời, Hội Thánh là “dấu chỉ và dụng cụ” để thực hiện trọn vẹn sự hợp nhất này mà cho đến nay vẫn còn phải đạt tới.
776. Với tính cách là bí tích, Hội Thánh là dụng cụ của Đức Kitô. “Hội Thánh cũng được Đức Kitô sử dụng như dụng cụ để cứu chuộc mọi người”202, “Hội Thánh là bí tích phổ quát của ơn cứu độ”203 qua đó Đức Kitô “biểu lộ và đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con người”204. Hội Thánh là “kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại”205, trong kế hoạch này, Thiên Chúa muốn cho “nhân loại phổ quát họp thành Dân duy nhất của Thiên Chúa, quy tụ thành Thân thể duy nhất của Đức Kitô, xây dựng nên một Đền thờ duy nhất của Chúa Thánh Thần”206.
HỘI THÁNH – DÂN THIÊN CHÚA
781. “Quả thật, trong mọi thời và trong mọi dân, bất cứ ai kính sợ Thiên Chúa và thực hành sự công chính đều được Ngài đón nhận. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hoá và cứu độ người ta riêng rẽ từng người một, không liên kết với nhau, nhưng Ngài muốn thiết lập họ thành một Dân, là dân nhận biết Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài một cách thánh thiện. Vì vậy, Ngài đã chọn dân Israel làm dân của Ngài, thiết lập với họ một Giao ước, giáo huấn họ dần dần, bằng cách biểu lộ chính mình Ngài và ý muốn của Ngài trong lịch sử của họ và thánh hiến họ cho Ngài. Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ là chuẩn bị và hình bóng của Giao Ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Đức Kitô…. Đó là Giao Ước mới Đức Kitô đã thiết lập trong máu Người, Người kêu gọi những người Do thái và dân ngoại làm thành một Dân, liên kết nhau hướng về sự hợp nhất không theo xác thịt nhưng trong Thần Khí 208.
Những đặc tính của dân Thiên Chúa
782. Dân Thiên Chúa có những đặc tính, phân biệt họ một cách rõ ràng với tất cả những tập thể trong lịch sử về tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa:
- Đây là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thuộc riêng một dân nào. Nhưng Ngài thủ đắc cho mình một dân từ những người trước kia không phải là một dân: “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh” (1 Pr 2,9).
- Người ta trở nên phần tử của dân này, không nhờ sự sinh ra theo thể lý, nhưng nhờ sự sinh ra “bởi ơn trên”, “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,3-5), nghĩa là, nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội.
- “Dân này có Đấng làm Đầu là Chúa Giêsu Kitô (Đấng Được Xức Dầu, Đấng Messia): bởi vì cùng một Sự Xức Dầu, là Chúa Thánh Thần, chảy từ Đầu vào Thân thể, nên đây là “Dân thuộc về Đấng Được Xức Dầu”.
- “Dân này có phẩm giá và sự tự do của các con cái Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần ngự trong trái tim của họ như trong một đền thờ”209.
- “Dân này có Luật là giới răn mới của yêu thương như chính Đức Kitô đã yêu thương chúng ta”210. Đó là Luật “mới” của Chúa Thánh Thần211.
- Sứ vụ của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian212. “Dân này là hạt giống chắc chắn nhất mang lại sự hợp nhất, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại”213
- Cuối cùng, mục đích của dân này là “Nước Thiên Chúa, đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”214.
HỘI THÁNH – THÂN THỂ ĐỨC KITÔ
Hội Thánh là sự hiệp thông với Chúa Giêsu
787. Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã kết hợp các môn đệ Người vào cuộc đời Người222; Người đã mạc khải cho họ mầu nhiệm Nước Trời223; và cho họ được tham dự vào sứ vụ, niềm vui224 và những đau khổ của Người225. Chúa Giêsu còn nói đến một sự hiệp thông mật thiết hơn nữa giữa Người với những ai đi theo Người: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em…. Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,4-5). Và Người loan báo một sự hiệp thông bí nhiệm và thật sự giữa thân thể của Người và thân thể của chúng ta: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56).
788. Khi không còn hiện diện hữu hình với các môn đệ của Người, Chúa Giêsu đã không để họ phải mồ côi226. Người hứa Người sẽ ở với họ cho đến tận thế227. Người sai Thần Khí của Người đến với họ228. Như vậy sự hiệp thông với Chúa Giêsu một cách nào đó đã trở nên mật thiết hơn: “Quả thật, bằng việc truyền thông Thần Khí của Người, Chúa Giêsu đã thiết lập các anh em Người, được triệu tập từ muôn dân, thành thân thể của Người một cách mầu nhiệm”229.
789. Việc so sánh Hội Thánh với một thân thể làm sáng tỏ sự ràng buộc thân mật giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Hội Thánh không chỉ được quy tụ quanh Đức Kitô; Hội Thánh được nên một trong Người, trong Thân Thể của Người. Có ba khía cạnh của Hội Thánh – Thân Thể Đức Kitô, cần được lưu ý đặc biệt: sự hợp nhất của mọi chi thể với nhau nhờ họ kết hợp với Đức Kitô; Đức Kitô là Đầu của Thân Thể; và Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô.
“Một Thân Thể duy nhất”
790. Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và trở nên chi thể của Thân Thể Đức Kitô, các tín hữu được kết hợp mật thiết với Đức Kitô: “Trong thân thể đó, sự sống của Đức Kitô được truyền thông cho các tín hữu là những kẻ, nhờ các bí tích, đã được kết hợp một cách bí nhiệm và thật sự với Đức Kitô chịu nạn và được tôn vinh”230. Điều này đặc biệt là thật đối với bí tích Rửa Tội, nhờ bí tích này chúng ta được kết hợp với cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô231, và đối với bí tích Thánh Thể, nhờ bí tích này “khi chúng ta được tham dự thật sự vào Thân Thể của Chúa, chúng ta được nâng lên đến sự hiệp thông với Người và với nhau”232.
791. Sự hợp nhất trong Thân Thể không làm mất tính đa dạng của các chi thể: “Trong việc xây dựng Thân Thể của Đức Kitô, có sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ. Chỉ có một Thần Khí, Đấng phân phát các hồng ân khác nhau của Ngài, theo sự phong phú của Ngài và theo nhu cầu của các thừa tác vụ để mang lại lợi ích cho Hội Thánh”233. Sự hợp nhất của Nhiệm Thể làm phát sinh và cổ võ đức mến giữa các tín hữu. “Từ đó, nếu một chi thể đau khổ, thì tất cả các chi thể đều đau khổ; còn nếu một chi thể được vinh dự, thì tất cả các chi thể đều chung vui”234. Sau cùng, sự hợp nhất của Thân Thể Đức Kitô chiến thắng mọi chia rẽ nhân loại: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô; không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,27-28).
Đức Kitô là Đầu của Thân Thể này
792. Đức Kitô là “Đầu của Thân Thể, nghĩa là Đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Người là Nguyên Lý của cả công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc. Khi được siêu thăng vào trong vinh quang của Chúa Cha, “Người đứng hàng đầu trong mọi sự” (Cl 1,18), nhất là trong Hội Thánh, và qua Hội Thánh, Người mở rộng Nước của Người trên mọi sự.
793. Chính Người kết hợp chúng ta với cuộc Vượt Qua của Người: Mọi chi thể phải trở nên giống như Người “cho đến khi Đức Kitô được hình thành” nơi họ (Gl 4,l9). “Chính vì thế chúng ta… được đảm nhận lấy các mầu nhiệm của cuộc đời Người, hiệp thông với những đau khổ của Người như thân thể hiệp thông với Đầu, cùng chịu đau khổ với Người, để cùng được tôn vinh với Người”235.
794. Chính Người làm cho chúng ta được tăng trưởng236: Để làm cho chúng ta tăng trưởng trong Người, là Đầu của chúng ta237, Đức Kitô phân phối các hồng ân và các thừa tác vụ trong Thân Thể Người là Hội Thánh, nhờ đó chúng ta giúp đỡ lẫn nhau trên con đường cứu độ.
795. Vì vậy, Đức Kitô và Hội Thánh là “Đức Kitô toàn thể” (Christus totus). Hội Thánh là một với Đức Kitô. Các Thánh ý thức một cách rất sống động về sự hợp nhất này:
“Vậy chúng ta hãy vui mừng và cảm tạ, vì không những chúng ta trở thành Kitô hữu, mà còn trở thành chính Đức Kitô. Thưa anh em, anh em có hiểu ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Đầu, trên chúng ta không? Anh em hãy cảm phục và vui mừng: chúng ta được trở thành Đức Kitô. Quả vậy, nếu Người là Đầu và chúng ta là chi thể, thì con người toàn thể (totus homo) chính là Người và chúng ta…. Vậy sự viên mãn của Đức Kitô, là Đầu và các chi thể. Nhưng Đầu và các chi thể là gì? Đó là Đức Kitô và Hội Thánh”238.
“Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã tỏ cho thấy, Người cùng với Hội Thánh mà Người đã đảm nhận, là như một người duy nhất”239. “Đầu và các chi thể là như một người huyền nhiệm duy nhất”240. Một câu nói của thánh nữ Jeanne d’Arc trước toà án tóm tắt đức tin của các Thánh tiến sĩ và cũng diễn tả lương tri của tín hữu:
“Về Chúa chúng ta và Hội Thánh thì tôi nghĩ cả hai chỉ là một, không phải rắc rối làm gì”241.
Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô
796. Sự hợp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh, giữa Đầu và các chi thể của Thân Thể, cũng bao hàm sự phân biệt giữa hai bên trong một tương quan cá vị. Khía cạnh này thường được diễn tả bằng hình ảnh phu quân và hiền thê. Đề tài Đức Kitô phu quân của Hội Thánh đã được các Tiên tri chuẩn bị và ông Gioan Tẩy Giả loan báo242. Chính Chúa cũng tự xưng như là “chàng rể” (Mc 2,l9)243. Thánh Tông Đồ trình bày Hội Thánh và mỗi tín hữu, chi thể của Thân Thể Người, như là Hiền Thê “được kết hôn” với Chúa Kitô để nên một Thần Khí với Người244. Hội Thánh là Hiền Thê tinh tuyền của Con Chiên tinh tuyền245, mà Đức Kitô đã yêu thương, Người đã hiến mạng sống mình vì Hội Thánh “để thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,26), Người liên kết Hội Thánh với mình bằng một giao ước vĩnh cửu, và không ngừng chăm sóc Hội Thánh như thân thể riêng của Người246:
“Đây là Đức Kitô toàn thể, gồm Đầu và thân thể, và là một do bởi nhiều người…. Vậy hoặc là đầu nói, hoặc là các chi thể nói, thì đều là Đức Kitô nói: Người nói trong cương vị là Đầu (ex persona capitis), và Người nói trong cương vị là Thân Thể (ex persona corporis). Nhưng nói gì? ‘Cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh’ (Ep 5,3l-32). Và chính Chúa cũng nói trong Tin Mừng: “Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt l9,6). Vậy như anh em đã biết, thật sự thì có hai người, nhưng cả hai đã nên một khi thành vợ thành chồng…. Với tư cách là Đầu, Người tự xưng là ‘Phu quân’; với tư cách là Thân Thể, Người tự xưng là ‘Hiền thê’”247.
HỘI THÁNH – ĐỀN THỜ CỦA CHÚA THÁNH THẦN
797. “Tinh thần hay linh hồn chúng ta tương quan với các chi thể thế nào, thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức Kitô, đối với Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh”248. “Cũng phải quy về Thần Khí của Đức Kitô, như về một nguyên lý không hữu hình, việc tất cả các phần của Thân Thể được kết hợp với nhau, cũng như với Đầu cao trọng của mình, vì Thần Khí hiện diện trọn vẹn nơi Đầu, trọn vẹn nơi Thân Thể, trọn vẹn nơi mỗi một chi thể”249. Chúa Thánh Thần làm cho Hội Thánh trở nên “Đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,l6)250:
“Quả vậy, hồng ân của Thiên Chúa đã được uỷ thác cho Hội Thánh… và sự hiệp thông của Đức Kitô đã được ký thác cho Hội Thánh, đó là Chúa Thánh Thần, Ngài là bảo chứng của sự bất diệt, là sức mạnh củng cố đức tin của chúng ta và là chiếc thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa…. Quả vậy, ở đâu có Hội Thánh, thì ở đó có Thần Khí của Thiên Chúa; và ở đâu có Thần Khí của Thiên Chúa, thì ở đó có Hội Thánh và mọi ân sủng”251.
798. Chúa Thánh Thần là “nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự có giá trị cứu độ trong mỗi phần của Thân Thể”252. Ngài hoạt động bằng nhiều cách để xây dựng toàn thân trong đức mến253: bằng Lời Thiên Chúa là “Lời có sức xây dựng” (Cv 20,32); bằng bí tích Rửa Tội nhờ đó Ngài làm nên Thân Thể Đức Kitô254; bằng các bí tích giúp cho các chi thể của Đức Kitô được tăng trưởng và được chữa lành; bằng ân sủng của các Tông Đồ, là điều trổi vượt trong các hồng ân của Ngài255; bằng các nhân đức, giúp các tín hữu hành động theo sự lành, và cuối cùng bằng nhiều ân sủng đặc biệt (được gọi là “các đặc sủng”) giúp các tín hữu “có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và phận vụ khác nhau, để mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Hội Thánh”256.
CÁC KITÔ HỮU: PHẨM TRẬT, GIÁO DÂN, ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
871. “Các Kitô hữu là những người, được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, được thiết lập thành dân Thiên Chúa, và do đó được tham dự, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô, được kêu gọi, tuỳ theo điều kiện riêng của mỗi người, để thực thi sứ vụ mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho Hội Thánh phải hoàn thành trong trần gian”393.
872. “Giữa tất cả các Kitô hữu, do việc họ được tái sinh trong Đức Kitô, có sự bình đẳng thật sự về phẩm giá và hành động, nhờ đó, tất cả mọi người, tuỳ theo địa vị và nhiệm vụ riêng của mỗi người, cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Đức Kitô”394.
873. Chính những khác biệt Chúa đã muốn đặt giữa các chi thể của Thân Thể Người, phục vụ cho sự hợp nhất và cho sứ vụ của Thân Thể Người. “Bởi vì trong Hội Thánh có nhiều thừa tác vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ vụ. Nhiệm vụ được Đức Kitô trao phó cho các Tông Đồ và những vị kế nhiệm các ngài là nhân danh Người và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Còn các giáo dân, những người được tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô, chu toàn những phần việc của mình trong sứ vụ của toàn dân Thiên Chúa trong Hội Thánh và trong trần gian”395. Cuối cùng, “trong cả hai thành phần này [phẩm trật và giáo dân], có những Kitô hữu, qua việc tuyên giữ những lời khuyên Phúc Âm…, được thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa, và làm ích cho sứ vụ cứu độ của Hội Thánh”396.
I. CƠ CẤU PHẨM TRẬT CỦA HỘI THÁNH
Tại sao có thừa tác vụ trong Hội Thánh?
874. Chính Đức Kitô là nguồn mạch của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Chính Người đã thiết lập thừa tác vụ, và trao ban thẩm quyền, sứ vụ, phương hướng và mục đích cho thừa tác vụ trong Hội Thánh:
“Để dân Thiên Chúa được chăn dắt và luôn được tăng trưởng, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau trong Hội Thánh của Người hầu mưu ích cho toàn thân. Thật vậy, các thừa tác viên, những người sử dụng quyền thánh chức, phục vụ các anh chị em mình, để mọi người thuộc dân Thiên Chúa … đạt tới ơn cứu độ”397.
875. “Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rm 10,14-15). Không có ai, không có cá nhân nào hay cộng đoàn nào, có thể tự loan báo Tin Mừng cho chính mình. “Có đức tin là nhờ nghe giảng” (Rm 10,17). Không ai có thể tự ban cho mình lệnh truyền và sứ vụ loan báo Tin Mừng. Người được Chúa sai đi nói và hành động không phải do quyền bính riêng, nhưng do sức mạnh quyền bính của Đức Kitô; người đó nói với cộng đoàn không phải với tư cách là một thành viên của cộng đoàn, nhưng nhân danh Đức Kitô. Không ai có thể tự ban cho mình ân sủng, ân sủng phải được ban tặng. Điều này giả thiết phải có những thừa tác viên của ân sủng, được Đức Kitô ban cho quyền bính và tư cách. Từ nơi Đức Kitô, các Giám mục và linh mục lãnh nhận sứ vụ và khả năng (“quyền thánh chức”) để hành động trong cương vị Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis), còn các phó tế lãnh nhận sức mạnh phục vụ dân Thiên Chúa, qua “việc phục vụ” Lời Chúa, phụng vụ và việc bác ái, trong sự hiệp thông với Giám mục và hàng linh mục của ngài. Thừa tác vụ này, trong đó những người được Đức Kitô sai đi nhờ hồng ân Thiên Chúa, thực hiện và ban tặng những gì họ không thể tự thực hiện và ban tặng cho chính mình, được truyền thống Hội Thánh gọi là “bí tích”. Thừa tác vụ của Hội Thánh được trao ban qua một bí tích riêng.
876. Được gắn liền cách nội tại với bản chất bí tích của thừa tác vụ của Hội Thánh là đặc tính phục vụ (indoles servitii) của thừa tác vụ đó. Thật vậy, các thừa tác viên hoàn toàn tùy thuộc Đức Kitô là Đấng trao sứ vụ và thẩm quyền, nên họ thật sự là “những nô lệ của Đức Kitô”398, theo gương Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện nhận lấy “thân nô lệ” (Pl 2,7) vì chúng ta. Bởi vì lời và ân sủng mà họ là thừa tác viên, không phải là của họ, nhưng là của Đức Kitô, Đấng đã ủy thác cho họ vì những người khác, nên họ đã tự nguyện trở thành nô lệ của mọi người399.
877. Cũng vậy, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính tập thể (indolem collegialem). Thật vậy, Chúa Giêsu, từ lúc khởi đầu thừa tác vụ của mình, đã thiết lập nhóm Mười Hai, “mầm mống của dân Israel mới, đồng thời là nguồn gốc của phẩm trật có chức thánh”400. Cùng được tuyển chọn một trật, và cùng được sai đi một trật, sự hợp nhất huynh đệ của các ngài sẽ phục vụ sự hiệp thông huynh đệ của tất cả các tín hữu; sự hiệp thông này sẽ là phản ảnh và làm chứng cho sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa401. Vì vậy, Giám mục nào cũng thực thi thừa tác vụ của mình trong Giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Giám mục Rôma là vị kế nhiệm thánh Phêrô và là đầu của Giám mục đoàn; các linh mục thực thi thừa tác vụ của mình trong linh mục đoàn giáo phận, dưới sự hướng dẫn của Giám mục của mình.
878. Sau cùng, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị (indolem personalem). Nếu các thừa tác viên của Đức Kitô hành động trong sự hiệp thông, thì họ cũng luôn luôn hành động cách cá vị. Mỗi người được kêu gọi cách cá vị: “Phần anh, hãy theo Thầy” (Ga 21,22)402, để, trong sứ vụ chung, người đó phải là một chứng nhân cá vị, khi lãnh trách nhiệm cách cá vị trước mặt Đấng trao ban sứ vụ, và khi hành động “trong cương vị của Người” (“in Eius persona”) hầu phục vụ các nhân vị: “Tôi rửa anh nhân danh Cha…”; “Tôi tha tội cho anh…”.
879. Vì vậy, thừa tác vụ bí tích trong Hội Thánh là một việc phục vụ được thực thi nhân danh Đức Kitô. Thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị và hình thức tập đoàn. Điều đó được thể hiện trong những mối liên hệ giữa Giám mục đoàn và đầu Giám mục đoàn, là vị kế nhiệm thánh Phêrô, và trong tương quan giữa trách nhiệm mục vụ của Giám mục đối với giáo phận của mình và sự quan tâm chung của Giám mục đoàn đối với Hội Thánh phổ quát.
Giám mục đoàn và vị đứng đầu là Đức Giáo Hoàng
880. “Đức Kitô, khi thành lập nhóm Mười Hai, đã thiết lập các ông theo cách thức một tập thể, một nhóm bền vững; Người đã đặt ông Phêrô, được chọn trong số họ, đứng đầu tập thể đó”403. “Cũng như do Chúa thiết lập, thánh Phêrô và các Tông Đồ khác lập thành một Tông Đồ Đoàn, thì Giám mục Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục, những người kế nhiệm các Tông Đồ, cũng được kết hợp với nhau như vậy”404.
881. Chúa đã đặt một mình ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, làm đá tảng của Hội Thánh Người. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh405; và đặt ông làm mục tử của toàn thể đoàn chiên406. “Tuy nhiên, nhiệm vụ tháo gỡ và cầm buộc, đã được ban cho ông Phêrô, rõ ràng cũng đã được trao ban cho Tông Đồ đoàn, hợp nhất với đầu của mình”407. Nhiệm vụ mục tử này của thánh Phêrô và của các Tông Đồ khác thuộc về nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ đó được tiếp tục bởi các Giám mục dưới quyền tối thượng của Giám mục Rôma.
882. Đức Giáo Hoàng, là Giám mục Rôma và vị kế nhiệm thánh Phêrô, “là nguyên lý và nền tảng hữu hình và trường tồn của sự hợp nhất, cả của cộng đoàn các Giám mục, cả của cộng đoàn các tín hữu”408. “Thật vậy, do nhiệm vụ của mình là Đại diện Đức Kitô và Mục tử của toàn thể Hội Thánh, Giám mục Rôma có quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trong Hội Thánh và ngài luôn có quyền tự ý thực thi thẩm quyền đó”409.
883. “Giám mục đoàn không có thẩm quyền, nếu không kết hợp với Giám mục Rôma là thủ lãnh của họ”. Như vậy, Giám mục đoàn “cũng có quyền trọn vẹn và tối cao trong Hội Thánh phổ quát, nhưng chỉ có thể thi hành thẩm quyền này với sự ưng thuận của Giám mục Rôma”410.
884. “Giám mục đoàn thực thi thẩm quyền trong Hội Thánh phổ quát một cách trọng thể trong Công đồng chung”411. “Nhưng không bao giờ có thể có Công đồng chung, nếu không được vị kế nhiệm thánh Phêrô phê chuẩn hay ít ra chấp nhận”412.
885. “Giám mục đoàn vừa diễn tả tính đa dạng và tính phổ quát của dân Thiên Chúa vì gồm nhiều người, vừa diễn tả sự hợp nhất của đoàn chiên của Đức Kitô, vì được tập họp dưới quyền một vị làm đầu”413.
886. “Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hợp nhất trong Giáo Hội địa phương của ngài”414. Như vậy, “mỗi Giám mục thực thi quyền mục vụ của mình trên phần dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình”415, với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế. Nhưng, với tư cách là thành viên Giám mục đoàn, mỗi Giám mục tham dự vào sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội416, các ngài thực thi sự quan tâm đó trước hết bằng việc “điều hành tốt Giáo Hội riêng như một phần của Hội Thánh phổ quát”, như vậy các ngài “mưu ích cho toàn nhiệm thể, cũng là thân thể của các Giáo Hội”417. Mối quan tâm này được đặc biệt hướng đến những người nghèo418, những người bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn trái đất.
887. Các Giáo Hội địa phương lân cận và có chung nền văn hóa tạo thành những giáo tỉnh, hay những tập thể lớn hơn được gọi là giáo miền hay địa hạt thượng phụ419. Các Giám mục của những tập thể này có thể họp Công nghị hay Công đồng giáo tỉnh. “Cũng vậy, ngày nay các Hội đồng Giám mục có thể góp phần một cách đa dạng và phong phú để ý kiến tập đoàn được áp dụng cụ thể”420.
Nhiệm vụ giảng dạy
888. Các Giám mục, với các linh mục là những cộng sự viên của ngài, “có nhiệm vụ trước tiên là phải loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi người”421, theo lệnh truyền của Chúa422. Các ngài “là sứ giả của đức tin, dẫn đưa những môn đệ mới đến với Đức Kitô, và là những vị thầy đích thực” “được ban thẩm quyền của Đức Kitô”423 để giảng dạy đức tin tông truyền.
889. Đức Kitô, Đấng là chân lý, để gìn giữ Hội Thánh trong đức tin tinh tuyền do các Tông Đồ lưu truyền, đã muốn cho Hội Thánh của Người được tham dự vào sự bất khả ngộ của riêng Người. “Nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin”, dân Thiên Chúa “gắn bó cách kiên vững với đức tin”, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền sống động của Hội Thánh424.
890. Sứ vụ của Huấn quyền gắn liền với tính chất vĩnh viễn của Giao Ước được Thiên Chúa lập với dân Ngài trong Đức Kitô; Huấn quyền phải bảo vệ dân Thiên Chúa khỏi những sai lạc và khiếm khuyết, và bảo đảm cho dân khả năng khách quan để tuyên xưng đức tin chân chính một cách không sai lầm. Như vậy, nhiệm vụ mục tử của Huấn quyền là tỉnh thức lo cho dân Thiên Chúa vững bền trong chân lý, một chân lý có sức giải phóng. Để Huấn quyền hoàn thành nhiệm vụ này, Đức Kitô đã ban cho các mục tử đặc sủng bất khả ngộ trong các vấn đề về đức tin và phong hóa. Việc thực thi đặc sủng này có thể mang những dạng khác nhau:
891. “Do nhiệm vụ của ngài, Giám mục Rôma, là đầu của Giám mục đoàn, được hưởng ơn bất khả ngộ đó khi, với tư cách là mục tử và thầy dạy tối cao của mọi Kitô hữu, là người củng cố anh em mình trong đức tin, ngài công bố một đạo lý về đức tin hoặc phong hóa bằng một hành vi chung thẩm…. Ơn bất khả ngộ được hứa ban cho Hội Thánh cũng có nơi Giám mục đoàn, khi các ngài thực thi Huấn quyền tối thượng cùng với vị kế nhiệm thánh Phêrô”, nhất là trong một Công đồng chung425. Khi Hội Thánh dùng Huấn quyền tối thượng để “dạy phải tin một điều gì như là do Thiên Chúa mạc khải”426 và như là giáo huấn của Đức Kitô, thì người ta “phải gắn bó với những xác quyết đó bằng sự vâng phục của đức tin”427. “Kho tàng Mạc khải thần linh trải rộng bao nhiêu, thì ơn bất khả ngộ này trải rộng bấy nhiêu”428.
892. Ơn trợ giúp thần linh cũng được ban cho các vị kế nhiệm các Tông Đồ khi giáo huấn cùng với vị kế nhiệm thánh Phêrô, và cách riêng cho Giám mục Rôma, Mục tử của toàn thể Hội Thánh, khi các ngài thực thi Huấn quyền thông thường mà dạy một đạo lý giúp hiểu tốt hơn Mạc khải trong các vấn đề về đức tin và phong hoá, dầu các ngài không xác quyết cách bất khả ngộ, hoặc không diễn tả “một cách chung thẩm”. Các Kitô hữu “phải gắn bó với Huấn quyền thông thường này bằng sự vâng phục đạo hạnh của tâm hồn”429, sự vâng phục đạo hạnh này, tuy khác biệt với sự ưng thuận của đức tin, nhưng nối dài sự ưng thuận của đức tin.
Nhiệm vụ thánh hóa
893. Giám mục cũng là “người phục vụ ân sủng của chức tư tế tối cao”430, nhất là trong bí tích Thánh Thể do chính ngài dâng và ngài bảo đảm việc hiến dâng nhờ các linh mục, là các cộng sự viên của ngài. Thật vậy, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của đời sống Giáo hội địa phương. Giám mục và các linh mục thánh hoá Giáo hội bằng kinh nguyện và việc làm của mình, nhờ thừa tác vụ Lời Chúa và các bí tích. Các ngài thánh hoá Giáo Hội nhờ gương mẫu của mình, “đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5, 3). Như vậy, “cùng với đoàn chiên được ủy thác cho mình, các ngài có thể đạt tới sự sống vĩnh cửu”431.
Nhiệm vụ cai quản
894. “Như vị đại diện và sứ giả của Đức Kitô, các Giám mục cai quản các Giáo Hội địa phương được trao phó cho mình bằng những lời khuyên bảo, khích lệ, gương sáng của mình, và cũng bằng thẩm quyền và và quyền thánh chức”432, mà các ngài phải thực thi để xây dựng trong tinh thần phục vụ, là tinh thần của Thầy mình433.
895. “Quyền năng này, mà các ngài thi hành một cách cá vị, nhân danh Đức Kitô, là một quyền năng riêng, thông thường và trực tiếp; tuy việc thực thi quyền này cuối cùng phải được hướng dẫn bởi thẩm quyền tối cao của Hội Thánh”434. Nhưng không được coi các Giám mục như những đại diện của Giám mục Rôma: thẩm quyền thông thường và trực tiếp của vị này trên toàn Hội Thánh không hủy bỏ, nhưng trái lại, củng cố và bảo vệ thẩm quyền của các Giám mục. Thẩm quyền này phải được thực thi trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Giám mục Rôma.
896. Vị Mục Tử nhân lành phải là gương mẫu và “khuôn mẫu” cho nhiệm vụ mục tử của Giám mục. Ý thức về những yếu đuối của mình, Giám mục “có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài không nên từ chối lắng nghe những kẻ thuộc quyền, mà ngài ân cần săn sóc như những người con thật của mình…. Còn các tín hữu phải gắn bó với Giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô gắn bó với Chúa Cha”435.
“Tất cả anh em hãy vâng phục Giám mục, như Chúa Giêsu Kitô vâng phục Chúa Cha; hãy vâng phục linh mục đoàn như vâng phục các Tông Đồ; và hãy kính trọng các phó tế như kính trọng lệnh truyền của Chúa. Chớ gì không ai làm điều gì có liên quan đến Hội Thánh một cách tách biệt với Giám mục”436.
II. CÁC KITÔ HỮU GIÁO DÂN
897. “Danh xưng giáo dân ở đây được dùng để chỉ tất cả các Kitô hữu trừ những thành viên có chức thánh và bậc tu trì đã được Hội Thánh công nhận, nghĩa là các Kitô hữu, đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, đã được thiết đặt vào dân Thiên Chúa, được tham dự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, theo phần vụ của mình mà thực thi sứ vụ của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian”437.
Ơn gọi của các giáo dân
898. “Ơn gọi riêng của các giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng việc quản trị và sắp xếp các thực tại trần gian theo ý Thiên Chúa…. Vậy một cách đặc biệt, nhiệm vụ của họ là phải soi sáng và sắp xếp thế nào, để các thực tại trần gian, vốn liên kết mật thiết với họ, không ngừng được thực hiện và phát triển theo Đức Kitô, để ca ngợi Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc”438.
899. Các sáng kiến của các Kitô hữu giáo dân là đặc biệt cần thiết khi phải khám phá và phát minh ra những phương tiện để đem các đòi hỏi của đạo lý và đời sống Kitô giáo thấm nhập vào các thực tại xã hội, chính trị và kinh tế. Các sáng kiến này là một yếu tố bình thường của đời sống Hội Thánh:
“Các Kitô hữu, và cụ thể hơn, là các giáo dân, đứng ở tuyến đầu của đời sống Hội Thánh; nhờ họ, Hội Thánh là nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Vì vậy, họ đặc biệt phải luôn ý thức rõ ràng hơn rằng không những họ thuộc về Hội Thánh, mà họ còn là Hội Thánh, nghĩa là, là cộng đoàn các Kitô hữu trên trần thế dưới sự hướng dẫn của vị làm đầu chung là Giám mục Rôma, và của các Giám mục hiệp thông với ngài. Họ là Hội Thánh”439.
900. Bởi vì việc tông đồ đã được Thiên Chúa trao phó cho họ, cũng như cho mọi Kitô hữu khác, qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, nên các giáo dân có bổn phận và có quyền lợi làm việc, hoặc một cách cá nhân, hoặc được quy tụ trong các hiệp hội, để sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa được mọi người ở khắp trái đất nhận biết và đón nhận; nghĩa vụ này còn khẩn cấp hơn khi chỉ nhờ họ, người ta mới có thể được nghe Tin Mừng và nhận biết Đức Kitô. Hành động của họ trong các cộng đoàn Hội Thánh là hết sức cần thiết, đến nỗi nếu không có hành động đó, thì việc tông đồ của các mục tử thường không thể đạt được hiệu quả đầy đủ440.
Giáo dân tham dự vào nhiệm vụ tư tế của Đức Kitô
901. “Các giáo dân, vì đã được thánh hiến cho Đức Kitô và được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, được kêu gọi và được chuẩn bị cách kỳ diệu để Thần Khí luôn mang lại những hoa trái dồi dào hơn nơi họ. Thật vậy, tất cả các công việc của họ, những lời cầu nguyện và việc dấn thân làm tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, việc lao động hằng ngày, việc thư giãn tinh thần và thể xác, nếu được thực hiện trong Thần Khí, và cả những khó khăn trong cuộc sống nếu được chịu đựng cách kiên nhẫn, thì tất cả đều trở nên những hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (x. 1 Pr 2,5), những hiến lễ đó được dâng lên Chúa Cha một cách rất thành kính, khi cử hành Thánh lễ, cùng với lễ vật là Mình Thánh Chúa. Như vậy, các giáo dân, với tư cách là những người tôn thờ bằng hành động một cách thánh thiện ở khắp nơi, cũng dâng chính trần gian lên Thiên Chúa”441.
902. Đặc biệt, các cha mẹ tham dự vào nhiệm vụ thánh hóa “bằng cách sống đời sống phu phụ theo tinh thần Kitô giáo và lo cho con cái được hưởng nền giáo dục Kitô giáo”442.
903. Các giáo dân, nếu có những phẩm chất đòi phải có, có thể được chấp nhận lãnh các thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ một cách bền vững443. “Ở đâu nhu cầu Hội Thánh đòi hỏi, vì thiếu thừa tác viên, các giáo dân, dù không có chức đọc sách và giúp lễ, cũng có thể làm thay một số việc của các thừa tác viên, cụ thể là thực thi thừa tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi đọc kinh phụng vụ, ban Phép Rửa và cho rước lễ, theo các quy định của giáo luật”444.
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ tiên tri của Đức Kitô
904. “Đức Kitô … chu toàn nhiệm vụ tiên tri của Người, không những nhờ Phẩm trật … nhưng còn nhờ các giáo dân, những kẻ Người đã đặt làm chứng nhân và ban cho họ cảm thức đức tin và ơn ngôn ngữ”445.
“Dạy dỗ … để dẫn đến đức tin … là nhiệm vụ của bất cứ vị giảng thuyết nào, và cũng là của bất cứ tín hữu nào”446.
905. Các giáo dân cũng chu toàn sứ vụ tiên tri của mình bằng việc phúc âm hóa, “nghĩa là loan báo Đức Kitô bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói”. Nơi các giáo dân, “việc phúc âm hóa này … mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống”447.
“Quả thật, việc tông đồ như vậy không chỉ cốt tại chứng từ đời sống; việc tông đồ thật tìm những cơ hội để loan báo Đức Kitô bằng lời nói hoặc cho những người chưa tin … hoặc cho các tín hữu”448.
906. Những ai trong các Kitô hữu giáo dân có khả năng và đã được huấn luyện, cũng có thể góp phần mình vào việc dạy giáo lý449, vào việc giảng dạy các khoa học thánh450, vào các phương tiện truyền thông xã hội451.
907. “Tuỳ theo kiến thức, thẩm quyền và uy tín bản thân, các Kitô hữu có quyền, và đôi khi có cả bổn phận phải bày tỏ cho các vị Mục tử có chức thánh biết ý kiến của họ liên quan tới lợi ích của Hội Thánh, họ cũng có quyền bộc lộ ý kiến của họ cho các Kitô hữu khác, miễn là bảo vệ được sự toàn vẹn của tín lý và luân lý, cũng như lòng kính trọng các vị Mục tử, và phải lưu ý đến công ích và phẩm giá của tha nhân”452.
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ vương đế của Đức Kitô
908. Đức Kitô, nhờ việc Người vâng phục cho đến chết453, đã truyền thông cho các môn đệ của Người hồng ân là sự tự do vương đế để “bằng sự từ bỏ mình và bằng đời sống thánh thiện, họ có thể chiến thắng vương quốc của tội lỗi nơi chính bản thân họ”454.
“Bất cứ ai chế ngự được thân xác mình và làm chủ bản thân một cách năng động thích hợp, không để linh hồn mình bị khích động bởi các đam mê, thì, vì kiềm chế tốt bản thân bằng một loại quyền năng vương đế, người đó được gọi là vua, người đó biết cai trị bản thân và là thẩm phán của mình, không bị lôi cuốn vào tội lỗi mà thành nô lệ”455.
909. “Ngoài ra, khi các cơ chế và hoàn cảnh của trần gian gây nên dịp tội, người giáo dân cũng phải hợp sức làm cho các cơ chế và hoàn cảnh đó trở nên lành mạnh, sao cho chúng phù hợp với các quy luật của đức công bằng, và nâng đỡ hơn là chống lại việc thực thi các nhân đức. Bằng hành động như vậy, họ làm cho nền văn hoá và các công trình nhân loại được thấm nhuần những giá trị luân lý”456.
910. “Các giáo dân … có thể cảm thấy mình được kêu gọi hay đã được kêu gọi để cộng tác với các Mục tử trong việc phục vụ cộng đoàn Hội Thánh, để làm cho đời sống cộng đoàn được tăng trưởng và phong phú, khi họ thực thi những thừa tác vụ rất đa dạng, tùy theo ân sủng và các đặc sủng, mà Chúa đã muốn rộng ban cho họ”457.
911. Trong Hội Thánh, trong việc thực thi quyền cai quản, “các Kitô hữu giáo dân có thể cộng tác chiếu theo quy tắc của luật”458. Như vậy có sự hiện diện của họ trong các Công đồng địa phương459, các Công nghị giáo phận460, các Hội đồng mục vụ461; trong việc thực thi trách nhiệm mục vụ trong một giáo xứ462; cộng tác trong các Hội đồng kinh tế463; tham gia vào các Tòa án giáo hội464, v.v….
912. Các Kitô hữu phải “cẩn thận phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là phần tử của Hội Thánh, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là phần tử của xã hội nhân loại. Họ phải cố gắng nối kết cả hai một cách hài hoà, mà nhớ rằng, họ phải được hướng dẫn bởi lương tâm Kitô hữu, trong bất cứ công việc trần thế nào, vì không một hoạt động nhân loại nào, dầu trong các công việc trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa”465.
913. “Như vậy, mỗi giáo dân, do chính những hồng ân đã được ban cho mình, là chứng nhân và đồng thời là dụng cụ sống động của chính sứ vụ của Hội Thánh, ‘tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho’ (Ep 4,7)”466