Bài 3 – Kitô học trong các sách Tin Mừng

English Vesion

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ từ Introduction to Christology – Chương 2

Chúng ta thường nghĩ về bốn Tin Mừng như khởi điểm của Kitô học. Các sách này cung cấp dữ liệu về Chúa Giêsu, sứ vụ của Người, việc có vẻ thất bại nhưng rồi chiến thắng thật của Người, cùng với ảnh hưởng của Người trên các môn đệ trước, trong và sau cái chết và sự Phục Sinh của Người. Chúng ta nghĩ về Kitô học như một tiến trình tìm sư hiểu biết và cho thấy những kết quả về cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu, thập giá của Người và việc hiện ra của Người như Đấng Phục Sinh cách chính xác như Người và cuộc đời của Người đã được ghi lại trong các Sách Thánh. Kitô học bắt đầu với việc thần học gia cầm những sách này trong tay và giải thích chúng cho thế hệ của chính mình. Theo nghĩa này, các Sách Thánh này có trước và cung cấp nền tảng cho mọi nỗ lực làm Kitô học.

Đúng là các Sách Thánh cung cấp một chiều kích cần thiết1 để bắt đầu làm Kitô học đối với những nỗ lực của mọi nhà thần học sống sau kỷ nguyên Tân Ước. Tuy nhiên, chính Kitô học không bắt đầu sau khi các Sách Thánh này được soạn thảo. Trái lại, chính những bản văn này là những thí dụ và kết quả của tiến trình làm Kitô học sớm nhất. Như vậy, các sách ấy tạo thành những khuôn mẫu cho các thế hệ tương lai về cả việc Kitô học đòi hỏi những gì và tiến trình làm Kitô học phải được thực hiện ra sao.

Chương này có hai mục đích. Trước hết, nó muốn cho thấy rằng bốn sách Tin Mừng, trong khi đưa ra một hình ảnh cốt lõi tương tự như nhau về Chúa Giêsu, cố ý mang lại bốn nhãn quan hoặc sắc thái rất đặc biệt của hình ảnh ấy. Thứ đến, nó tìm cách liên hệ chất liệu này, các hình ảnh của Đức Kitô và những hiểu biết Kitô giáo mà chúng tiêu biểu, với các yếu tố và động lực của việc làm Kitô học như được mô tả trong Chương 1 ở trên. Phần sau sẽ bao gồm một số suy tư sơ khởi về mối liên hệ của các hình ảnh trong của Đức Kitô các Tin Mừng với sự phát triển của đức tin cá nhân của Kitô hữu. Chương này sẽ kết thúc (cũng như chương trước) bằng một loạt các câu hỏi để suy nghĩ. Các câu hỏi này có mục đích giúp người đọc sử dụng tài liệu này một cách có ý nghĩa cho chính mình và hơn nữa, tham gia vào tiến trình làm Kitô học cách cá nhân để thăng tiến chính trong đời sống đức tin và việc làm môn đệ.

Bốn Tin Mừng  – Bốn hình ảnh Đức Kitô

Bốn Tin Mừng rõ ràng cho chúng ta một tường thuật về cuộc đời, sứ vụ, cái chết và sự Phục Sinh của cùng một Chúa Giêsu. Mọi Tin Mừng đều kể về phép rửa, các lời rao giảng và giảng huấn của Chúa Giêsu, về sự chữa lành kỳ diệu của Người đối với cả những bệnh tật về thể xác lẫn tinh thần, về lòng trắc ẩn của Người đối với những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và bỏ rơi của dân Israel và về cuộc xung đột càng ngày càng tăng của Người với giới lãnh đạo tôn giáo thời ấy, và về cuộc xét xử, đóng đinh và những lần hiện ra sau đó của Người như Đấng Phục Sinh.3  Tuy nhiên, trong những tường thuật cơ bản tương tự này, người ta nhận thấy ngay một số khác biệt. Thánh Matthêu và Luca có thêm “những câu chuyện thời thơ ấu” mô tả việc loan báo về sự ra đời của Thánh Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu, chính việc giáng sinh, và một số điều đó trong những năm đầu tiên của Chúa Giêsu. Tin Mừng thứ tư, mang tên của Thánh Gion, thêm một “lời mở đầu”, phản ảnh nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu là Lời của Thiên Chúa. Nếu đọc thêm chúng ta thấy rất nhiều sự khác biệt về chân dung của Chúa Giêsu, nhưng không mâu thuẫn với hình ảnh cốt lõi được mô tả, nhưng tất cả đều tạo ra những nhãn quan rất đặc biệt về con người của Chúa Giêsu, phong thái của việc giảng dạy, việc thi hành sứ vụ của Người, và những cách mà các môn đệ chung cuộc đã hiểu Người. Đó là những khác biệt về nhãn quan mà chúng tôi sắp mô tả.

Đức Kitô của Tin Mừng Marcô

Tin Mừng Marcô rõ ràng là Tin Mừng ngắn nhất và trực tiếp nhất trong bốn tường thuật Tin Mừng về cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu. Điều này tự nó nhấn mạnh sự độc đáo và khác biệt của nó trong cách trình bày về Chúa Giêsu.

CHÚA GIÊSU TRONG MARCÔ: ĐẤNG CHỮA LÀNH VÀ TRỪ QUỶ

Người ta không thể không ngạc nhiên vì Tin Mừng này di chuyển nhanh như thế nào khi trình bày Chúa Giêsu như Đấng chữa lành và trừ quỷ. Ngay trong chương đầu, chúng ta đã đọc rằng Chúa Giêsu đã trừ quỷ, chữa lành cơn sốt của mẹ vợ ông Simon, chữa sạch một người phong cùi và chữa nhiều bệnh tật khác để người ta “mang đến cho Người tất cả những người bị bệnh tật hoặc quỷ ám” (1:32b). Vì vậy, sứ vụ đầy hứa hẹn và hấp dẫn của Chúa Giêsu được thánh Marcô ghi chú ngay lập tức: “Cả thành xúm lại trước cửa” (1:33). Ngay cả khi Chúa Giêsu tìm kiếm sự yên tĩnh và cầu nguyện, các môn đệ của ông đã theo đuổi và tìm thấy ông, kêu lên: “Mọi người đang tìm kiếm bạn” (1:37), đến nỗi “Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người” (1:45).  Trong những cảnh mở đầu của Tin Mừng này, Chúa Giêsu được trình bày cho chúng ta như một nhân vật rất hấp dẫn. Dân chúng lập tức được lôi cuốn, với niềm tin tưởng, bợi quyền năng chữa lành có sẵn.

Những câu chuyện tiếp theo, theo trình tự nhanh chóng, tăng cường hình ảnh của Chúa Giêsu như là người chữa lành – trừ quỷ. Chương thứ hai bắt đầu bằng cách kể về Chúa Giêsu chữa lành một người đàn ông bị liệt và tha thứ tội lỗi của Người (2: 1-11). Tiếp theo Chúa Giêsu được trình bày như là một người chữa khỏi một bàn tay khô héo (3: 1-5). Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh đến sức mạnh kỳ diệu của Chúa Giêsu: “Dân chúng lũ lượt đến với Người từ Giuđea, Giêerusalem, Idumea, bên kia sông Giođăng và vùng phụ cận hai thành Tyre và Sidon. Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn” (3: 8f). Người ta có cảm giác rằng mọi người đều biết Chúa Giêsu; mọi người chạy đến với Người và tìm thấy sự chữa lành kỳ diệu qua Người.

Các chương tiếp theo mô tả việc chữa lành và trừ quỷ của Chúa Giêsu đạt đến một tầm mức thậm chí vĩ đại hơn. Quyền năng của Người cũng mở rộng cho cả những người không phải là dân Israel; Người chữa lành cho những kẻ được coi là ở những tình trạng vô phương cứu chữa. Chúa Giêsu được trình bày như một người trừ quỷ cho một người đàn sống giữa các dân ngoại trong vùng Gerasene (5: 1-20). Không ai đã có thể kiềm chế người này; anh ta bị đeo gông và xiềng xích, nhưng anh đã đập tan xiềng xích. Anh bị ám không phải bở môtb quỷ, mà bởi rất nhiều quỷ được gọi là Đạo binh. Số lượng của chúng quá nhiều đến cần phải có hai ngàn con lợn mới có thể cung cấp chỗ ở mới cho chúng khi người này được chữa khỏi. Tuy nhiên, một khi anh đã được Chúa Giêsu chữa lành, mọi người thấy anh ấy ăn mặc chỉnh tề và hoàn toàn lành mạnh.

Việc Chúa Giêsu chữa lành cho con gái của một chủ hội đường cũng tương tự như vậy (5: 21-24, 35-43) trong khi em “sắp chết” (5:23). Người chữa cho một phụ nữ bị bệnh băng huyết đã mười hai năm, sau mỗi lần đi thầy thuốc về tình trạng tồi chỉ nên tệ hơn (5: 25-34). Người trừ quỷ cho con gái của một phụ nữ Syro-phoenicia (7: 24-30) và một người từ vùng Thập Thành (vùng đất của dân ngoại) khỏi bệnh câm điếc (7: 31-37).

Chúa Giêsu của Marco, sau đó, nổi tiếng nhanh chóng và với sinh lực dồi dào như một vị chữa lành quyền năng. Không ai đọc Tin Mừng này mà không kinh ngạc về quyền năng này; bất cứ ai bị đau khổ bất kỳ cách nào cũng không thể cưỡng lại sức lôi cuốn để tìm sức mạnh chữa lành, lòng sẵn sàng và khả năng chữa lành mọi bệnh tật của Người. Chính Chúa Giêsu, người mà Thánh Marcô muốn bảo đảm với người đọc, hiện diện mãi mãi với chúng ta.  Vì hình ảnh Đức Kitô phục sinh của Marcô vẫn còn là hình ảnh đặc biệt trong bốn Tin Mừng. Đức Kitô của Tin Mừng Marcô, vẫn còn sống cho chúng ta mãi mãi, dạy các môn đệ của mình: “Và đây là những dấu lạ sẽ đi cùng những ai tin là nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, sẽ nói những tiếng lạ.  Họ sẽ cầm rắn, và nếu uống phải thuốc độc, họ sẽ không bị hại.  Họ sẽ đặt tay trên những người bệnh, và những người đó sẽ được lành mạnh.” (16: 17f). Đức Kitô phục sinh, còn sống trong Hội Thánh của Người, là Chúa Giêsu chữa lành và trừ quỷ.

CHÚA GIÊSU TRONG MARCÔ: NGƯỜI TÔI TỚ TRUNG TÍN VÀ ĐAU KHỔ

Ngoài việc nhấn mạnh đến vai trò trừ quỷ và chữa lành của Chúa Giêsu, Tin Mừng Thánh Marcô, cũng rõ ràng như thế, còn đưa ra một hình ảnh khác, nghịch lý hơn về Đức Kitô: Chúa Giêsu là người Tôi Tớ trung tín và đau khổ của Thiên Chúa.5 Tác giả công bố quan điểm này ngay từ ban đầu: Tin Mừng của ông là Tin Mừng của “Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (1: 1).

Tước hiệu “Con Thiên Chúa” đối với Marcô, cần được hiểu trong bối cảnh Thánh Kinh của nó. Nhiều Kitô hữu sẽ hiểu thuật ngữ “Con Thiên Chúa” trước hết như phản ảnh niềm tin rằng Chúa Giêsu là “được Thiên Chúa sinh ra” và “chia sẻ thần tính của chính Thiên Chúa”. Sự hiểu biết về thuật ngữ “Con Thiên Chúa” này phát sinh từ sự suy tư triết thần của thế kỷ thứ tư hơn là từ sự hiểu biết thần học – Thánh Kinh của thế kỷ thứ nhất. Việc gọi là “Con Thiên Chúa”, theo cách sử dụng trong Thánh Kinh, có nghĩa là “người được tuyển chọn” và “tôi tớ trung tín.”6 Theo nghĩa này, nó đã được áp dụng cho dân Israel (Xh 4: 22tt; Hos 11: 1), cho vua của Israel (Tv 2:7; 2 Sam 7:14), hoặc cho bất kỳ người Do Thái đạo đức nào tuân giữ Lề Luật (Hc 4:10). Tước hiệu được lặp lại lúc Chúa Giêsu chịu phép rừa khi tiếng từ trời phán: “Con là Con Ta, Con yêu dấu và đẹp lòng Ta” (1:11). Ở đây, lời công bố phản ánh lời mở đầu của “Bài Ca Người Tôi Tớ” của Isaia,7 các sấm ngôn này lên đến cao điểm khi ca tụng người tôi tớ vô tội chuộc tội  cho mọi người. Do đó, người đọc lập tức được mời để hiểu Chúa Giêsu là “Người Tôi Tớ trung tín và yêu dấu của Thiên Chúa”.

Một lần nữa, các sự việc di chuyển nhanh chóng trong tường thuật của Marcô. Người tôi tớ, lúc đầu được mô tả như có khả năng chữa lành, cũng được trình bày như làm việc dưới sự ngờ vực của chính quyền và gây ra những xung đột ngày càng sâu xa. Ngay trong chương thứ hai, tác giả đã đặt Chúa Giêsu vào giữa cuộc đấu tranh trong bốn lần liên tục. Chúa Giêsu đã tuyên bố tha tội cho người bất toại. Một số luật sĩ trong đám đông tự hỏi: “Tại sao người này lại nói theo thư thế?  Nó phạm thượng! Ai có thể tha tội trừ một mình Thiên Chúa?” (2:60). Tiếp theo, Chúa Giêsu được mời ăn tối với Lêvi, một người thu thuế. Một số người Pharisêu thấy điều này và nói với các môn đệ của Chúa Giêsu: “Tại sao ông ấy lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?” (2:16). Thánh Marcô lưu ý rằng Chúa Giêsu và các môn đệ đã không ăn chay. “Người ta đến và nói với Người, “Tại sao các môn đệ của ông Gioan và các môn đệ của Pharisêu ăn chay, nhưng các môn đệ của Thầy lại không?” (2:18). Hơn nữa, tác giả kể lại rằng các môn đệ của Chúa Giêsu đã bứt các dé lúa khi đi qua một cánh đồng trong ngày Sabát. Hành động này khiến những người Pharisêu trách móc, “Coi kìa, tại sao họ lại làm những điều không được phép trong ngày Sabát?” (2: 24) Cuối cùng, cuộc xung đột đang gia tăng lên đến tột cùng khi những người Pharisêu để ý xem Chúa Giêsu có chữa lành ngày Sabát không.  Người đã làm như vậy và tác giả nói rằng: “Những người Pharisiêu ra khỏi đó, lập tức toan tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Người.” (3: 6). Sự trung thành của Chúa Giêsu với Thiên Chúa nảy ra những đe dọa nghược đãi. Người đọc không thể quên hình ảnh: Chúa Giêsu là người tôi tớ trung tín của Thiên Chúa, phải chịu sự chối ngay từ đầu. Theo một nghĩa nào đó, đó là “căn tính cá nhân và sâu xa nhất của Người” để vừa trung thành với Chúa và cũng bị bách hại vì lòng trung thành ấy.

Nhưng những biểu hiện đầu tiên về việc Chúa Giêsu bị chối từ chỉ là bề nổi của tảng băng chìm. Thân nhân của Người nghĩ rằng Người bị điên (3:21), và các luật sĩ buộc tội Người chữa bệnh bằng quyền năng của quỷ (3:22).  Người bị chối từ ở Nazareth (6:1-6) và chẳng bao lâu sau tác giả kể lại câu chuyện về cái chết của ông Gioan Tẩy Giả, cho người đọc nhìn thấy trong biến cố này một dự đoán đáng ngại về số phận của chính Chúa Giêsu (6:17-29 ). Cuối cùng, mầu nhiệm về số phận và căn tính của Đức Kitô của Marcô được hoàn toàn rõ ràng khi Chúa Giêsu xác định và sửa lại sự hiểu biết ngắn ngủi của Thánh Phêrô về đức tin khi gọi Chúa Giêsu là “Đấng Mêsia”. Lúc ấy chính Chúa Giêsu, trong tiên báo đầu tiên của ba tiên báo về cuộc Thương Khó của Người,8 “bắt đầu dạy họ rằng Con Người phải chịu nhiều điều đau khổ, và sẽ bị các kỳ lão, trưởng tế cùng luật sĩ tẩy chay, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại”; các môn đệ của Người đầy hoài nghi và hoảng hốt (8:27-33). Như việc làm Con của Người, sứ vụ Thiên Sai làm cho Nước Thiên Chúa trị đến của Người được gắn liền với con đường thập giá.

Cao điểm của hoạt động này, đương nhiên, là Cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Sự khác biệt về hình ảnh của Chúa Giêsu của Marcô như người Con trung tín và Người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa sáng chói trong chính sự khốc liệt mà Ngài mô tả những giây phút cuối cùng của Chúa Giêsu.9 Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn thật đau đớn. Tiếng kêu của Người với Cha dường như không được trả lởi; việc Người bị “bắt” khỏi vườn chỉ được hỗ trợ bởi sự kiên định và cam chịu của Người (14:41tt.). Nỗi đau gia tăng vì sự tiếp tục cứng tin của các Tông đồ, bởi sự chối từ của Thánh Phêrô, và cuối cùng là sự bỏ trốn của tất cả các môn đệ. Chì một mình Thánh Marcô nhấn mạnh sự hoàn toàn từ bỏ ấy khi nói về một chàng trai bí ẩn, không mặc gì ngoài một tấm vải gai, là người đã đi theo Chúa Giêsu. Khi những kẻ thù của Chúa Giêsu bắt môn đệ này, anh “đã bỏ tấm vải lại và chạy trần truồng” (14:51). Ý của Marcô dường như để so sánh với phản ứng ban đầu của các môn đệ với Chúa Giêsu, trong đó họ bỏ mọi sự (lưới, gia đình họ) mà theo Người (1:18,20), với phản ứng cuối cùng của họ với Chúa Giêsu, trong đó một môn đệ cuối cùng bỏ lại mọi sự lại đằng sau để chạy xa Người.11 Kết quả là Chúa Giêsu chịu đựng thử thách gấp đôi, thường Người có thói quen im lặng mà không trả lời,11 không có nơi nương tựa, không có ai để nhờ, để bảo đảm một bênh vực hữu hiệu. Người chịu đóng đinh một mình, bị hạ thấp hơn nữa bởi sự những lời chối từ, nhạo báng, chế giễu liên tục và bị bỏ rơi: bởi những khách qua đường (15:29), bởi các trưởng tế và luật sĩ (15:31), và bởi các phạm nhân cùng bị đóng đinh với Người (15:32). Chúa Giêsu là hiện thân của một người mang thân phận đau khổ.

Đối với người đọc, chân dung của Thánh Marcô về Chúa Giêsu chỉ đưa đến một kết luận: con đường đến ơn cứu độ là cùng đi với Chúa Giêsu, chịu đựng sự chối từ, từ bỏ, bắt bớ và thập giá cá nhân. Mặc dù có thể khó mà quả quyết với sự kiên trì, Chúa Giêsu là Người Con trung tín của Thiên Chúa bằng cách trở thành Người Tôi Tớ Đau Khổ thực sự của Chúa. Đó là cách đặc biệt để hình dung về Đức Kitô, một Đức Kitô mà các môn đệ của Chúa Giêsu rất khó chấp nhận, mà Thánh Marcô khẳng định vô điều kiện theo lời của một người không phải môn đệ, một bách đội trưởng Rôma: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa!” (15:39).

Với những lời ấy, Thánh Marcô đưa chúng ta trở lại nơi ngài khởi đầu. Sau khi bắt đầu kể cho chúng ta Tin Mừng về Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, ngài từ từ lộ ra một câu chuyện bi thảm hơn bao giờ hết, và kết luận bằng cách cho chúng ta biết rằng việc trung thành với Thiên Chúa, “Con Thiên Chúa” thực sự có ý nghĩa gì.

Đức Kitô của Tin Mừng Thánh Matthêu

Đức Kitô của Thánh Matthêu rõ ràng là cùng một Chúa Giêsu, Đấng có một cuộc đời, sứ vụ, cái chết và sự phục sinh như được Thánh Marcô kể lại. Chúa Giêsu của Thánh Matthêu cũng chữa lành, trừ quỷ, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại. Nhưng Thánh Matthêu nhấn mạnh các khía cạnh nguồn gốc, cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu, là những điều được coi là thứ yếu trong tường thuật của Thánh Marcô. Đó là sự độc đáo của Đức Kitô của Thánh Matthêu mà chúng ta tìm cách làm nổi bật.

CHÚA GIÊSU CỦA MATTHÊU: CON VUA ĐAVID, VUA MUÔN DÂN

Người đọc lưu ý đầu tiên rằng Thánh Matthêu giới thiệu Tin Mừng của mình với một gia phả được theo sau bằng tường thuật thời thơ ấu.12 Câu đầu tiên của Tin Mừng nói về nguồn gốc nhân loại của Chúa Giêsu: Người là con vua Đavid, con ông Abraham. Vua Đavid được nhắc đến năm lần (1:1,6,17) trong gia phả. Thánh Giuse, cha của Chúa Giêsu, được gọi là “con vua Đavid” trong loan báo cho ông về sự giáng sính của Đức Kitô (1:20). Ngay từ đầu, Đức Kitô của Matthêu gắn liền với lịch sử dân Do Thái và dòng Đavid. Về việc để hoàn thành vai trò của các Vua được xức dầu của Israel, Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai vương đế, Đấng được xức dầu đến để thiết lập vương quốc cuối cùng và được chờ đợi từ lâu của Israel.13

Tuy nhiên, người đọc Tin Mừng Matthêu, nhanh chóng ghi nhận sự mở rộng đối với triều đại của Đức Kitô. Căn tính đế vương của Người được công nhận và tôn vinh không chỉ bởi người Do Thái (Giuse, Maria, các mụd đồng) mà còn bởi Dân Ngoại, nghĩa là, bởi muôn dân. Chuyện độc đáo của Matthêu là chuyện về các Đạo Sĩ, những người không phải là Do Thái, tìm kiếm vị vua mới sinh và tôn thờ Người. Cũng độc đáo với Matthêu là cách ngài giới thiệu sứ vụ công khai của Đức Kitô, Chúa Giêsu là “ánh sáng cho Dân Ngoại” (4: 15tt.; x. Is 8:22, 9: 1). Sự mở rộng phổ quát về triều đại và ánh sáng của Chúa Giêsu càng ngày càng được được nhấn mạnh trong Tin Mừng, không chỉ trong Chúa Giêsu khen viên bách đội trưởng Rôma (8:10) và trong việc trừ quỷ cho hai người bị quỷ ám ở Gaderene (8:28-30) – các sự kiện cũng được kể trong Marcô, nhưng trong lời tiên tri của Người rằng Nước Thiên Chúa sẽ được lấy đi từ các tư tế, kỳ mục và Pharisêu và trao cho những người khác (8:11tt; 21:43). Đức Kitô của Matthêu được sinh ra với một tầm vóc phổ quát, được tiền định để cai trị cả người Do Thái và Dân Ngoại.

ĐỨC KITÔ CỦA MATTHẾU: MÔSÊ MỚI, ĐẤNG BAN LỀ LUẬT MỚI

Điểm đặc biệt nhất về Chúa Giêsu của Matthêu được nhấn mạnh bằng việc tác giả viết lại về người trung gian đáng kính cho Lề Luật của Thiên Chúa, là ông Môsê. Đối với Matthêu, Chúa Giêsu là người kế vị ông Môsê; Người là Môsê mới, Đấng ban Lề Luật mới, đem Lề Luật mới đến và cho dân Israel mới. Hình ảnh này của Đức Kitô được nổi bật trong chính tường thuật thời thơ ấu. Chúa Giêsu bị vua Hêrêđê (kẻ muốn giết hài nhi) tìm kiếm, được cha mẹ đưa sang Ai Cập dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa, và trở về khi an toàn, từ Ai Cập để thiết lập đất hứa mới (2:1 -23). Người ta nhắc về ông Môsê, người mà đời sống bị đe dọa ngay sau khi mới sinh ra, đã tìm thấy sự bảo vệ ở Ai Cập, và nhờ sự hướng dẫn của Thiên Chúa đã dẫn dân Thiên Chúa đến vùng đất hứa (Xh 2-15).

Chủ đề được giới thiệu trong tường thuật thời thơ ấu của Matthêu trở thành trọng tâm ban đầu của Tin Mừng. Khác với Marcô, Matthêu chọn cách tóm tắt việc chữa lành và trừ quỷ của Chúa Giêsu bằng một tuyên bố ngắn gọn (Mt. 4: 23). Thay vào đó, những mô tả đầu tiên của Matthêu về sứ vụ của Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sứ vụ giảng dạy, công việc tỏ bày Lề Luật Mới và Vương Quốc mới (5:1-7:29).15  Và như thế, như ông Môsê đã nhận được Lề Luật trên núi Sinai (Xh 1, 9-24), Chúa Giêsu lên núi (Mt. 5: 1) và bắt đầu dạy cho đám đông.16 Và Chúa Giêsu thực sự ban một Lề Luật mới: không phải người giàu mà người nghèo (về tinh thần) được chúc phúc; không phải chiến binh hay kẻ chiến thắng, mà người hiền lành, người kiến tạo hòa bình và người bị bắt bớ đều được chúc phúc; không phải người thoải mái, không có vấn đề, mà những người than khóc được chúc phúc.

Hơn nữa, sự mới mẻ của Luật này, đòi hỏi một đáp trả mới và đầy đủ hơn về phía người môn đệ. Ông Môsê Mới nói rất rõ điều này trong một tuyên bố quan trọng: “Nếu các con không ăn ở công chính hơn các luật sĩ và các người Pharisêu, thì các con sẽ không bao giờ được vào Nước Trời.” (5:20). Người cũng xác quyết: không chỉ việc giết người và ngoại tình mới bị cấm, mà người ta phải đánh tan sự tức giận và kiểm soát sự ham muốn trước khi những đam mê này đưa đến những tội lỗi hữu hình (5: 21-30). Người ta không chỉ phải yêu thương người lân cận, mà cũng phải yêu thương và thậm chí cầu nguyện cho kẻ thù của mình (5: 43).

Tuy nhiên, các đáp ứng sâu xa hơn này, không phải là không có lý do. Đức Kitô của Matthêu khuyên nhủ các môn đệ của mình rằng tất cả đều là con của cùng một Cha trên trời. Chỉ khi yêu như Cha yêu, chỉ khi hoàn hảo như Ngài hoàn hảo, người ta mới có thể thực sự chia sẻ sự sống của Ngài và nên một thành phần của gia đình Ngài (5:45-48). Người môn đệ tìm cách sống dưới triều đại của Thiên Chúa bị đòi hỏi nhiều hơn, nhưng cũng được hứa hẹn nhiều hơn. Khi sống theo Luật này, người ta sẽ trở nên sống trọn vẹn như Thiên Chúa đang sống; người ta sẽ sống bằng tình yêu là Thiên Chúa.

Hơn nữa, Đức Kitô của Matthêu vượt trên Môsê theo cách thứ hai. Người không chỉ là Đấng Trung Gian của một Lề Luật mới, mà Người còn làm trung gian cho Lề Luật mới đó một cách mới. Về vấn đề này, Đức Kitô của Matthêu giảng dạy bằng cách sử dụng phản đề: “Các con đã nghe nói với người xưa rằng …. Nhưng Thầy bảo các con ….”17 Trong khi Môsê và các ngôn sứ luôn nói về Lề Luật hay Lời của Thiên Chúa được ban cho họ, thì Chúa Giêsu trình bày Lề Luật như xuất phát từ chính quyền bính của mình. Người không chỉ đơn thuần là người ban Lề Luật mà là người làm ra Lề Luật. Người nắm giữ quyền bính mà không một nhà lãnh đạo nào của Israel từng nắm giữ trước Người (7: 28). Như thế, trong cả nội dung của các giáo huấn của Người lẫn cách giảng dạy của Người, Chúa Giêsu thực sự là Môsê Mới, Đấng Ban Lề Luật Mới, tối thượng!

Trong ánh sáng này, một số đặc điểm khác của Đấng Ban Lề Luật Mới này cần được lưu ý. Trước hết, khi ban Lề Luật mới này, Đức Kitô của Matthêu không bỏ qua Lề Luật cũ. Người đến, không phải để bãi bỏ Lề Luật mà là để làm cho nó nên trọn (5:17). Vì thế, Đức Kitô của Matthêu trích dẫn Thánh Kinh (Cựu Ước) thường xuyên hơn Đức Kitô của bất kỳ Tin Mừng nào khác. Người xác minh ý định và sứ vụ của Người là để đưa giao ước cũ đến tầm vóc tron vẹn.

Thứ đến, Đức Kitô này thường phân biệt những khác biệt nhỏ về Lề Luật cho khán giả của mình. Không phải chỉ là người nghèo, nhưng phải là người có tinh thần nghèo khó mới có phúc; Không chỉ những người đói khát, mà những người đói khát công lý sẽ được no thoả.18 Các môn đệ của Đức Kitô của Matthêu không bị buộc phải trả thuế cho việc bảo trì Đền Thờ hoặc hỗ trợ của chính quyền Rôma, nhưng họ được dạy trả tiền để tránh tranh luận hoặc xúc phạm (17: 24-27). Và, với thẩm quyền hợp pháp của các luật sĩ và người Pharisêu, họ được khuyên nên tuân theo các mệnh lệnh của những người ấy, nhưng đừng theo gương họ (23:1-2). Với một luật lý tưởng và có sức biến đổi như Lề Luật Mới, Đức Kitô của Matthêu mang đến cho nó nhiều sắc thái, cho thấy sự nhạy cảm cẩn thận với các vấn đề cụ thể mà người nghe phải đối diện.19

Lề Luật Mới quá quan trọng cho cuộc sống của người môn đệ dưới triều đại Thiên Chúa, đến nỗi Đức Kitô của Matthêu thực hiện một số bước để bảo đảm việc trung gian liên tục. Sau việc tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô ở Caesarea Philipphê, nơi Đức Kitô của Marcô chỉ đơn thuần đáp lại bằng một giáo huấn rằng Con Người phải chịu đau khồ, Đức Kitô của Matthêu xác nhận Phêrô (nói rằng ông “được chúc phúc” bời Cha trên trời) và trao cho Phêrôn “chìa khóa Nước Trời” với quyền “cầm buộc và tháo mở” (16: 16-19) .20 Hơn nữa, trong khi dạy các môn đệ về sự cần thiết phải tha thứ cho nhau, Người tìm cách đảm bảo sự trung thành bằng cách đặt ra một tiến trình quản lý sự sửa lỗi cho nhau và bằng cách cam kết rằng bất cứ điều gì Hội Thánh cầm buộc hoặc tháo mở dưới đất thì cũng sẽ bị cầm buộc và tháo mở trên trời (18: 15-35).21

Độc giả Tin Mừng Matthêu không thể không coi Lề Luật mới là trọng tâm của tường thuật của Matthêu và coi Chúa Giêsu rõ ràng là Đấng Ban Lề Luật của Thiên Chúa. Lề Luật đó và tác vụ của Chúa Giêsu có chủ ý hướng dẫn môn đệ một cách an toàn và hiệu quả theo những cách sống sự sống của Thiên Chúa có chiều sâu hơn dưới triều đại của Ngài. Đó là Lề Luật, được ban hành bởi Đấng vừa là Vua mới của Israel vừa là Ánh sáng cho Dân Ngoại, Đấng giữ tất cả mọi người lại với nhau trong sự sống của Thiên Chúa và Cha của Chúa Giêsu. Và vì thế, Thánh Matthêu trình bày Chúa Giêsu trong hình ảnh này như cách lâu dài mà Đức Kitô phục sinh nói với những ai theo Người. Vì trong khi Đức Kitô của Marcô ủy thác cho các môn đệ chữa lành, Đức Kitô của Matthêu, với trọn quyền năng, đã trở lên núi với những chỉ thị cuối cùng: “Hãy làm cho muôn dân thành môn,… dạy họ tuân theo mọi điều mà Thầy đã truyền cho các con và này, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (28: 18-20).22

Chúa Giêsu là ông Môsê Mới, ban Luật mới cho tất cả những ai nghe Người. Qua thẩm quyền mà Người ban cho Thánh Phêrô và những người được hợp lại với ông, Đức Kitô của Matthêu hướng dẫn muôn dân và kết hợp họ với chính mình. Bằng cách này, tất cả mọi người đều có thể sống dưới triều đại của Thiên Chúa và nên một trong việc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.

Đức Kitô Tin Mừng Thánh Luca

Đức Kitô của Tin Mừng Luca tự bày tỏ chính mình cho chúng ta theo một quan điểm khác. Trong Chúa Giêsu của Luca, người ta gặp, không phải chủ yếu Người Tôi tớ trung tín và đau khổ của Chúa, không phải chủ yếu Đấng chữa lành và trừ quỷ, không chủ yếu là Đấng đã được Thiên Chúa tuyển chọn Vua và Đấng Ban Lề Luật phổ quát, nhưng là Ngôn Sứ bênh vực người nghèo của Thiên Chúa, một ngôn sứ được xức dầu của lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa. Chúa Giêsu của Luca miêu tả niềm vui của ơn cứu rỗi như phát ra từ việc quảng đại sống và chia sẻ trong lòng từ bi và sự tha thứ đầy thương xót của Thiên Chúa.23

ĐỨC KITÔ CỦA LUCA: NGÔN SỨ BÊNH VỰC NGƯỜI NGHÈO24

Chúa Giêsu đã đến để đem lòng thương xót đến và đòi công lý cho người nghèo. Chiều kích của sứ vụ này của Chúa Giêsu vang lên trong suốt các chương mở đầu, tường thuật thời thơ ấu của Tin Mừng này. Như Tin Mừng Matthêu, tường thuật này có vai trò là phần mở đầu và coi trước của sách. Và thế Thánh Luca tiền dự sứ vụ của Chúa Giêsu bằng bài thánh thi được đặt trên môi mẹ Người:

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, và thần trí tôi vui mừng trong Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi…. Người đã hạ những kẻ quyền thế từ nơi cao, và đã nâng những người hèn mọn lên; Người đã cho kẻ đói khó no đầy ơn phúc, và để người giàu có trở về tay không. Người đã nâng đỡ Israel, tôi tớ Người, bởi nhớ lại lòng thương xót Người. (1: 46a, 52-54)

Và Thánh Luca tiếp tục chủ đề trong bài thánh thi của Dêcaria, thân phụ của Thánh Gioan Tẩy Giả:

Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel, vì Người đã đoái nhìn dân Người và đã cứu chuộc họ. Người đã cho xuất hiện Vị Cứu Tinh quyền thế để giúp ta, trong nhà Đavid tôi tớ Người…. Như thế, Người đã chứng tỏ lòng thương xót như đã hứa với tổ tiên chúng ta, và đã nhớ giao ước thánh của mình, Phần con, con sẽ được gọi là ngôn sứ của Đấng Tối Cao; con sẽ đi trước Chúa để dọn lối cho Người …. Bởi lòng thương xót dịu dàng của Thiên Chúa chúng ta, rạng đông từ chốn cao vời cao sẽ chiều soi chúng ta (1:68-78)

Đức Kitô của Luca được tiền định để tỏ bày lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Việc thực hiện cái nhìn này về Đức Kitô và sứ vụ của Người được thấy rõ ràng trong chính Tin Mừng. Tường thuật của Luca về lời công bố ban đầu của Đức Kitô về sự hiện diện của triều đại Thiên Chúa tương phản với lời tường thuật trong Marcô (1:15) và Matthêu (4:17) vì nó hướng đến người nghèo: “Thánh Thần của Chúa ngự trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho tôi để đem tin mừng đến cho người nghèo” (4:18).26 Sự tương phản tiếp tục: Đức Kitô của Luca, giống như của Matthêu, dạy rằng Thiên Chúa chúc phúc cho những người nghèo và nnhững gười đói khổ, nhưng khác Đức Kitô của Matthêu, phúc lành này không xác định rõ ràng các từ này. Như thế, Thánh Luca để cho độc giả của mình hiểu rằng Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, có ý chúc lành cho chính những người đau khổ vì đói nghèo về thể lý.27

Hình ảnh Đức Kitô của Luca là nhà đấu tranh cho người nghèo trở nên rõ ràng hơn khi Chúa Giêsu khuyên một thính giả của Người “ông hãy mời những người nghèo, người què, người tàn tật và người mù” đến dự tiệc của mình thay vì mời người giàu, vì như thế, ông sẽ thực sự được chúc phúc, bởi vì họ không thể trả ơn ông, vì ông sẽ được trả ơn trong ngày các kẻ lành sống lại” (14:13).28  Thực ra, thái độ của một người trong việc đối xử với người nghèo có ý nghĩa vĩnh cửu. Về vấn đề này, Đức Kitô của Luca đặc biệt nghiêm khắc với những người giàu có mà bỏ bê người nghèo (16: 19-31),29 nhưng khẳng định rõ ràng ơn cứu độ cho những người quảng đại trong việc sử dụng của cải của mình (18:24-30; 19:1-10; 21:1-4).30 Trong khi nghèo đói từng bị coi là một dấu chỉ của sự không hài lòng của Thiên Chúa, Đức Kitô của Luca truyền đạt một cách chắc chắn xác tín kép của Người rằng sự nghèo khó có thể giúp một người được tự do hơn để hưởng phúc lành của Thiên Chúa và rằng Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu, đang làm việc để làm nhẹ gánh nặng của người nghèo.

CHÚA GIÊSU CỦA LUCA: NGÔN SỨ CỦA LÒNG NHÂN TỪ VÀ THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Hình ảnh Đức Kitô như như ngôn sứ bênh vực người nghèo, trong khi là trọng tâm của cái nhìn của tác giả Tin Mừng thứ ba, thực ra là một biểu hiện của một hình ảnh sâu xa hơn nhiều. Đức Kitô của Luca chủ yếu là ngôn sứ của lòng thương xót và nhân từ tha thứ vô hạn của Thiên Chúa. Đối với Chúa Giêsu, lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô điều kiện; nó biến đổi những người tội lỗi thành những vị thánh; nó mở rộng cho tất cả mọi người thiếu thốn và chỉ được đo lường bằng nhu cầu và sự ăn năn.  Sứ điệp này được thấy rõ khi Chúa Giêsu, trong lúc ăn tối với ông Pharisêu Simon, dạy ông ta về nguồn gốc và sự chân thành của các hành động yêu thương của một người phụ nữ hối cải. Cô ấy yêu nhiều vì đã được tha nhiều. Lòng thương xót đã biến đổi cô (7:36-50).31  Sứ điệp được mở rộng hơn trong dụ ngôn Người Samaria nhân lành (chỉ được Thánh Luca ghi lại).32 Câu chuyện này thách thức tất cả những những ai nghe phải nhận ra lòng thương xót thật sự, lòng thương xót của Thiên Chúa, phải mở rộng cho cả ngooại kiều lẫn người đồng hương (10:25-37). Cuối cùng, chỉ trong Luca, Chúa Giêsu mới kể những câu chuyện về người phụ nữ tìm kiếm đồng tiền bị mất và người cha nóng lòng tha thứ cho đứa con trai hoang đàng trở về của mình. Cả hai câu chuyện đều có ý không chỉ gợi lên cảm giác về lòng thương xót không ngừng và vô điều kiện của Thiên Chúa, mà còn thách thức người nghe tìm thấy niềm vui trong việc tha thứ cho người khác một cách tương tự (15:9tt, 31).33 Vì lòng thương xót là đặc điểm nổi bật nhất của tâm tính của Đức Kitô của Luca, Thánh Luca để lại cho chúng ta hình ảnh về lòng nhân từ của Đức Kitô trên thập giá, khi hứa với người trộm lành: “Quả thật tôi nói với anh, hôm nay bạn sẽ ở cùng tôi trên thiên đàng” (23:43). Chính con người của Đức Kitô, được minh xác vĩnh viễn là lòng nhân từ và thương xót trong cái khi chết của Người. Chính nhờ lòng nhân từ và thương xót mà Chúa Giêsu, lời ngôn sứ của Thiên Chúa, loan báo và làm cho triều đại Thiên Chúa xảy đến trong thời đại mới.

CHÚA GIÊSU CỦA LUCA: MỘT NGƯỜI CẦU NGUYỆN

Cùng với sự rất quan tâm của Người đến những người nghèo và bị quên lãng, ruồng bỏ và những kẻ tội lỗi, Chúa Giêsu của Luca được đặc trưng bằng việc liên tục chú tâm đến Thiên Chúa. Một lần nữa, hơn tất cả các Tin Mừng khác, Đức Kitô của Luca nổi bật như một con người cầu nguyện.

Ngay trong những câu chuyện thời thơ ấu, Chúa Giêsu được mô tả là bận rộn rất nhiều với Cha siêu việt của mình: Người được dâng cho Thiên Chúa trong đền thờ và được ông Simeon hiểu là có một thân phận đặc biệt mà Thiên Chúa ban (2:22-35). Lúc mười hai tuổi, khi ở lại trong đền mà cha mẹ Người không biết trước, Người làm cho Đức Mẹ và Thánh Giuse ngạc nhiện với câu hỏi: “Tại sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải ở trong nhà Cha con sao?” (2:48-50).

Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc cầu nguyện nổi bật như một hoạt động thường xuyên và quan trọng nhất của Chúa Giêsu. Nó cung cấp một con đường không thể thiếu được cho sự hiệp thông đang phát triển của Người với Thiên Chúa; nó trở nên bối cảnh chính cho các quyết định của Người liên quan đến sứ vụ độc đáo của Người. Tất cả các quyết định quan trọng của Người có nguồn gốc trong cầu nguyện. Người nhận được sự xác nhận về ơn gọi của Người trong khi cầu nguyện sau khi chịu phép rửa (3:21-22). Người vào hoang địa, một nơi để suy niệm và đương đầu với Satan, nhờ đó đào sâu  hơn cam kết dấn thân cho ơn gọi của Người (4:1-13). Trước khi chọn những người theo mình gần nhất, Người dành cả đêm để cầu nguyện (6:12). Khi tác vụ của Chúa Giêsu mở ra, lời cầu nguyện cá nhân cung cấp những dịp để Người nói với các môn đệ về Cuộc Khổ Nạn sắp tới của Người (9:18); cho sự biến hình của Người và cuộc trò chuyện của Người với ông Môsê và Elia liên quan đến cuộc xuất hành34 của Người sẽ được thực hiện ở Giêrusalem (9:28-36); và để dạy cho các môn đệ của Người về cầu nguyện (11:1-4). Cuối cùng, khi thời gian của Người ở thế gian sắp kết thúc, Người nói về việc đã cầu nguyện cho ông Phêrô và cho sự trung thành của các môn đệ (22:32). Người đi đến vườn để cầu nguyện “như thường lệ của Người” (22:39-42), và cuối cùng phó sự sống của Người cho Thiên Chúa với lời cầu nguyện từ thập giá: “Lạy Cha, con xin ph1o linh hồn con trong tay Cha” (23:46). Chúa Giêsu Luca không những chỉ là “Người cho người khác”, một “nhà ngôn sứ về lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa”; Người cũng, và sâu xa hơn, là một “Người của Thiên Chúa”. Trong cầu nguyện, Người tìm thấy sự linh hứng và nguồn gốc của tác vụ chăm sóc là điều chạm đến và chữa lành tâm hồn của nhiều người. Trong cầu nguyện, Người đã tìm thấy sự hiệp thông với Thiên Chúa của mình, Đấng mà Người gọi là “Cha”.

CHÚA GIÊSU CỦA LUCA: ĐẤNG ĐƯỢC THẦN KHÍ THIÊN CHÚA XỨC DẦU

Cuối cùng, Đức Kitô của Luca, hơn Đức Kitô của các Tin Mừng khác, được Thần Khí của Thiên Chúa uốn nắn và ban cho quyền lực,35 Thần Khí thường xuất hiện trong bối cảnh của cầu nguyện. Đối với Thánh Luca, Thánh Thần hoạt động trong việc thụ thai Chúa Giêsu.36 Trinh Nữ chịu thai bởi vì, theo lời của thiên thần nói với Đức Mẹ, “Thánh Thần sẽ đến với bà và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ che phủ bà” (1:34).37 Thánh Thần đó củng cố Chúa Giêsu cho tác vụ trong phép rửa của Người (3:22), đổ đầy trên Người và dẫn Người vào hoang địa (4:1) nơi Người chịu cám dỗ, trăn trở với ơn gọi của Người (4: 1-13). Thánh Thần hướng dẫn Người và đổi mới Người cách sâu xa hơn cho tác vụ của Người (4:14), gây hứng khởi cho Người để bắt đầu tác vụ với một công bố về thời đại mới của triều đại Thiên Chúa (4:18-21). Cũng chính Thánh Thần ấy cho Người có khả năng nhận ra và ca tụng những con đường của Thiên Chúa (10:21)38 khi thời đại mới mở ra. Do đó, Chúa Giêsu của Luca bảo đảm cho các môn đệ của Người về sự tha thiết của Thiên Chúa để chia sẻ Thánh Thần với họ, chỉ cần họ xin (11:13),39 và Người tuyên bố rằng Thánh Thần sẽ ban cho họ lòng can đảm để tiếp tục trung thành trong thử thách (12:12) .40

Đối với độc giả của Thánh Luca, chắc chắn rằng các lời nói và việc làm của Chúa Giêsu bắt nguồn từ Thần Khí Thiên Chúa. Độc giả của ngài phải hiểu rằng Chúa Thánh Thần đã linh hứng Chúa Giêsu trong ơn gọi của Người để đem lòng thương xót và công lý cho những người nghèo và sự tha thứ đầy thương xót cho mọi người. Người đọc không thể coi thường sự thực là việc cầu nguyện của Chúa Giêsu đã giúp Người nhận được hồng ân này của Thiên Chúa, không chỉ vì lợi ích của Người, mà còn vì việc hoàn thành tác vụ đã được Thiên Chúa trao và số phận đã được Thiên Chúa ban. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy tính trung tâm của Chúa Thánh Thần và ơn tha thứ được nhấn mạnh một cách tối hậu khi Đức Kitô Phục Sinh hứa sẽ gửi Thánh Thần này, lời hứa của Chúa Cha, xuống trên các môn đệ lúc Người lên trời khi Ngài lên trời (24: 48).41 Đối với Thánh Luca, Chúa Giêsu, được xức dầu và được Chúa Thánh Thần ban quyền năng nhu6 ngôn sứ của lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa, đầng bênh vực người nghèo, là sứ thần của Thiên Chúa được sai đến để chia sẻ cùng một Thần Khí quyền năng, thương xót và công lý với tất cả những ai tin vào Người.

Đức Kitô của Tin Mừng Thánh Gioan

Cho đến nay, sự đa dạng nhất trong hình ảnh Chúa Giêsu có vẻ, không từ sự tương phản giữa các Tin Mừng Marcô, Matthêu và Luca, mà từ việc ghi chú những khác biệt cơ bản một mặt giữa sự mô tả của Thánh Gioan về Chúa Giêsu, và mặt khác các mô tả được đưa ra trong các Tin Mừng Nhất Lãm. Vì người đọc Tin Mừng thứ tư được giới thiệu về mầu nhiệm Đức Kitô, không phải ở phép rửa của Người (như ở Marcô),  hoặc qua việc kể ra gia phả của Người (Matthêu), hoặc bằng cách kể về sự thụ thai và giáng sinh của Người (Matthêu và Luca), nhưng qua một suy tư về Thiên Chúa vĩnh hằng, Lời tiền hữu của Thiên Chúa và hành động của Thiên Chúa trong thế gian qua Lời ấy. Trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm nhấn mạnh đến nguồn gốc của Đức Kitô trong lịch sử, được thụ thai làm người qua tác động của Chúa Thần Thần, tác giả Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh nguồn gốc của Đức Kitô ở cõi vĩnh hằng, hiện hữu từ trước, chính Người là Lời sáng tạo và sự Khôn Ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa42 (1:1- 3). Chúa Giêsu nhân loại là Lời của Thiên Chúa làm người (1:14). “Là Con Một của Chúa Cha”, Người tỏ lộ vinh quang của Thiên Chúa, sự hiện diện và quyền năng cứu rỗi hữu hình của Thiên Chúa;43 Người tự mình hưởng “sự viên mãn của ân sủng và chân lý”, lòng thương xót của Thiên Chúa,44 và Người thực sự là Thiên Chúa, làm một với Chính Thiên Chúa siêu việt.

Vì thế, Tin Mừng thứ tư bắt đầu khi các Tin Mừng Nhất Lãm ngừng lại. Đức Kitô của Gioan được giới thiệu một cách nhanh chóng, với rất nhiều danh hiệu, khi Người bước vào tác vụ công khai của Người. Người được công nhận ngay là “Chiên Thiên Chúa”, Đấng gánh tội trần gian (1:29,36), Con Thiên Chúa (1:34, 49), Thầy hay Rabbi (1:38,49), Đấng Mêsia hay Thiên Sai (1:41) và Vua Israel (1:49), những danh hiệu mà các môn đệ của các Tin Mừng Nhất Lãm chỉ áp dụng cho Chúa Giêsu cách tiệm tiến. Tuy nhiên, tác giả của Tin Mừng thứ tư cho rằng độc giả của ngài đã quen thuộc với những hiểu biết này về Chúa Giêsu. Mục đích của tác giả là dẫn người đọc vào một sự hiểu sâu hơn về căn tính của Chúa Giêsu. Vì thế, để đáp lại sự tò mò của các môn đệ khi hỏi: “Thầy ở đâu?” (1:38), Chúa Giêsu mời họ “hãy đến và xem” (1:39), cuối cùng hứa, “Anh sẽ thấy thiên đàng mở ra và các thiên sứ của Thiên Chúa đi lên và đi xuống trên Con Người” (1:51). Trong lời ấy, tác giả Tin Mừng thứ tư tuyên bố rõ ràng ý định của tác phẩm của mình: có một chiều sâu về Chúa Giêsu mà trước đây chưa được nhận ra, mà ông muốn dẫn dắt người đọc trân quý.

ĐỨC KITÔ CỦA GIOAN: NGÔI LỜI HẰNG HỮU, SỰ KHÔN NGOAN VĨNH CỬU

Tác giả của Gioan sử dụng một số chủ đề và hình ảnh đan kết lẫn nhau để bày tỏ căn tính của Chúa Giêsu. Trước hết, Chúa Giêsu là biểu hiện của Lời hằng hữu, Sự Khôn Ngoan vĩnh cửu và sáng tạo của Thiên Chúa, trong nhục thể. Người không chỉ là sứ giả của Thiên Chúa được sai đến để trao ban Lời của Thiên Chúa (như ở Marcô), Người cũng không đơn thuần là Đấng Ban Lề Luật tối cao, có thể truyền đạt lời này theo thẩm quyền của chính mình (như trong Matthêu), nhưng chính Người là Lời ấy, là hiện thân của Sự Khôn Ngoan sáng tạo của chính Thiên Chúa45 Vì Đức Khôn Ngoan là trưởng tử của Thiên Chúa, từ trời cao xuống trước khi tạo thành vũ trụ (Cn 8:22-31), nên Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng chính Người là Đấng đến từ trời, có thể nói những lời của Thiên Chúa và ban Thần Khí của Thiên Chúa (Ga 3:13, 31tt). Khi Đức Khôn Ngoan dọn bàn tiệc và từ trên cao gọi những người thiếu hiểu biết: “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế!  Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (Cn 9: 5-11),46 vì vậy, Chúa Giêsu, khi nói với người phụ nữ Samaria ở giếng Giacóp, tuyên bố: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở nên nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4:13-14).47  Người nhắc lại lại căn tính của mình trong bài giảng về “bánh hằng sống”: “Không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian… Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”(6: 32-35). Và cũng như Đức Khôn Ngoan, hiện diện khi tạo ra ánh sáng (so sánh Cn 8:22 với Gn 1: 3), là hào quang của quyền năng của Thiên Chúa, sự huy hoàng của ánh sáng bất diệt (Kn 7: 25-26) và một ánh sáng dẫn đường đã giải thoát Israel khỏi sự áp bức đen tối của người Ai Cập (Kn 10:15-17),48 vì vậy, Chúa Giêsu của Gioan nhận mình không những chỉ là hiện thân mà còn là Sự Khôn Ngoan Cứu Độ và ánh sáng thấu suốt: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 812)

CHÚA GIÊSU CỦA GIOAN: SỰ MẶC KHẢI  CỦA VINH QUANG THIÊN CHÚA

Một chủ đề thứ hai đan kẽ và bổ sung nói lên căn tính của Chúa Giêsu trong Tin Mừng thứ tư phác hoạ Chúa Giêsu như sự mặc khải vinh quang của Thiên Chúa, sự mặc khải về sự hiện diện của Thiên Chúa trong quyền năng cứu rỗi. Sự khác biệt trong quan điểm của Gioan được thấy rõ trong việc Chúa Giêsu của Tin Mừng thứ tư không làm phép lạ hay những việc cả thể mà làm những dấu chỉ. Mục tiêu của những dấu chỉ này không phải để gây ra thắc mắc hay kinh ngạc 49 hoặc để tỏ lộ Nước Thiên Chúa,50 nhưng để biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa nơi con người và hành động của Chúa Giêsu. Do đó, Chúa Giêsu biến nước thành rượu, khi làm “dấu chì đầu tiên của Người … và tỏ lộ vinh quang” với kết quả là “các môn đệ tin vào Người” (2:1-11).  Người chữa lành cho con trai của một sĩ quan của nhà vua (4:46-54), chữa người bại liệt (5:1-18) và tiền liệu Lễ Vượt qua mới bằng cách vượt qua Biển hồ Galilê và lam cho bánh hoá nhiều (6:1-21).51 Mỗi dấu chỉ đều dẫn đến niềm tin trọn vẹn hơn vào Chúa Giêsu (4:50, 53; 5:15; 6: 14-15), hoặc thành lý do khiến cho một số người không chịu tin (5:9b,16; 6:41, 52, 6-66). Điều này thúc đẩy Chúa Giêsu thách đố lòng trung thành của Phêrô, và ông đáp lại: “Lạy Chúa, bỏ Chúa thì chúng con biết đến với ai? Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Chúng con đã tin và xác tín rằng Chúa chính là Ðấng Thánh của Thiên Chúa ” (6: 68-69).

Trong cùng một mô hình, và với nhiều cuộc tranh luận, Đức Kitô của Gioan chứng tỏ Người là Ánh sáng thế gian (đã được công bố trong chương 3) bằng cách cho một người mù từ thủa mới sinh được nhìn thấy (9:5-7 ). Cuối cùng, chủ đề về khôn ngoan, công việc của Đức Kitô tỏ lộ vinh quang của Thiên Chúa, và các phản ứng khác nhau về Người, đạt đến cao điểm trong một chuỗi các sự kiện nhanh chóngbiến cố xảy ra liên tục: “Thầy là sự sống lại và sự sống. Ai tin vào Thầy, dù có chết, cũng sẽ sống được sống và ai đang sống mà tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” (11:25-26). Sau đó, Người tỏ lộ vinh quang Thiên Chúa cho Ladarô sống lại (11:4,40-44). Cuối cùng và đễ đoán được nhất, là Người hoặc nhận được một số người tin (11:27, 45) hoặc trở thành đối tượng của một âm mưu để giết Người (11:46-53). Tuy nhiên, đối với tác giả Tin Mừng Gioan, chỉ có một chân lý: Chúa Giêsu là sự mặc khải của vinh quang của Thiên Chúa, quyền năng cứu rỗi hữu hình của Thiên Chúa cho tất cả những ai tin.

ĐỨC KITÔ CỦA GIOAN: ĐẤNG TỰ HỮU

Một hình ảnh thứ ba phân biệt Đức Kitô của Gioan với Đức Kitô của các Tin Mừng Nhất Lãm được nổi bật trong việc Chúa Giêsu tự nhân mình là “TA LÀ”, cùng một danh xưng mà Đức Chúa đã mặc khải cho ông Môsê (Xh 3:14).54 Theo cùng một cách này, Chúa Giêsu công bố “TA LÀ … bánh hằng sống” (6:35), “… ánh sáng thế gian” (8:12), “… cổng” (10: 7,9), “… mục tử nhân lành (kiểu mẫu)” (10: 11,14),” … sự sống lại và sự sống” (11:25), “… đường, sự thật và sự sống” (14: 6 ) và “… cây nho thật” (15:1). Chúa Giêsu nói rõ tầm quan trọng của những lời công bố này trong cuộc đối thoại với các kẻ thù của Người, khi khẳng định rằng “các ông sẽ chết trong tội của mình trừ khi ông tin rằng TA LÀ” (8:24). Nếu người ta còn nghi ngờ, cái chết của Người sẽ xác nhận căn tính đó: “Khi các ông nâng Con Người lên, các ông sẽ nhận ra rằng TA LÀ ngài” (8:28). Người là một căn tính siêu việt lịch sử: “Trước khi có Ábraham, TA LÀ” (8:58). Đức Kitô của Gioan là Thiên Chúa cứu rỗi siêu việt của lịch sử Israel.

Ba đặc điểm khác biệt về Chúa Giêsu của Gioan là điều tiết lộ căn tính sâu thẳm của Người trong Thiên Chúa được khai triển và cho thấy chúng thậm chí còn đan kết một cách sâu xa hơn nữa trong nửa sau của Tin Mừng thứ tư (chương 13-21), phần mà các nhà thần học Thánh Kinh gọi là “Sách Vinh Quang”. “Khi tác giả đào sâu mặc khải, rõ ràng là lời cam kết của Chúa Giêsu rằng Người sẽ không để các môn đệ của mình mồ côi mà sẽ trở lại với họ (14:18) báo trước một cách rất cá nhân trong đó Chúa Giêsu là và sẽ vẫn là nguồn cứu rỗi siêu việt cho tất cả những ai tin vào Người. Cam kết về sự hiện diện cá nhân không ngừng này nhằm liên kết các đặc tính khác biệt của Chúa Giêsu của Gioan. Điều này có thể được minh họa bằng ba bước.

Thứ nhất, Chúa Giêsu mời các môn đệ nên một với Người, sống trong Người và để Người sống trong họ, bằng cách sống trong tình yêu của Người (15: 4-5,9). Lời mời gọi này mô tả trọng tâm lời mời của Đức Khôn Ngoan, hình ảnh mà trong đó Chúa Giêsu đã hứa sức bổ dưỡng và sự sống ngay từ đầu. Do đó, Chúa Giêsu / Đức Khôn Ngoan là mẫu mực của tình yêu: “Như Thầy đã yêu các con, các con cũng phải yêu nhau” (13:34).56

Tuy nhiên, tình yêu tỏ lộ trái tim của Đức Khôn Ngoan, cần có tiêu chuẩn. Nó không chỉ đơn thuần là một tình yêu lãng mạn, mà là yêu cho đến hy sinh. Các môn đệ được mời gọi chết vì nhau với Đức Kitô (15:12). Đồng thời, Chúa Giêsu coi việc tỏ lộ cách yêu thương này cho các môn đệ như một hành động thiết lập mối dây liên hệ sâu xa giữa sự kết hợp cá nhân của Người và họ. Khi tỏ lộ chiều sâu của tình yêu của mình, Chúa hiến mình cho họ, coi họ rõ ràng là bạn hữu chứ không phải là tôi tớ (15:15). Hơn nữa, trong tình yêu này, người ta nhìn thấy và kinh nghiệm Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã nói với ông Philipphê, rằng ai thấy Chúa Giêsu thì thấy Chúa Cha (14: 8-9). Vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy lời mời gọi và mệnh lệnh yêu  thương và hy sinh cho đến chết này được nhắc lại lần nữa, lần này bởi Chúa Phục Sinh cho Phêrô là điều kiện tiên quyết để ủy quyền cho Phêrô dẫn dắt các môn đệ của Đức Kitô (21:15-19).57 Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đức Kitô của Gioan, nói với người môn đệ rằng con đường dẫn đến sự hiệp thông vĩnh cửu với Người và với Chúa Cha là cuộc hành trình yêu thương giống như Đức Kitô. Ngay cả bây giờ, trong tình yêu ấy, người môn đệ sống trong sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đức Khôn Ngoan vĩnh cửu.

Thứ hai, Chúa Giêsu của Gioan, như Đức Kitô của Luca, hứa ban Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sia đền nhân danh Người (14:15-17, 26;16:12). Nhưng khác Đức Kitô của Luca, Đức Kitô của Tin Mừng thứ tư cũng gửi Thần Khí của chính mình (15:26; 16:7).58 Thần Khí ấy sẽ ở trong các môn đệ và sẽ ở lại với họ. Ngài sẽ nhắc các ông tất cả những gì Chúa Giêsu (Đức Khôn Ngoan) đã dạy (14:26), và sẽ dẫn họ trên đường chân lý, đặc biệt là trong thời gian chiến đấu và thử thách (16:12), như danh hiệu “Đấng Bào Chữa” ám chỉ.

Đối với tác giả của Gioan, Chúa Giêsu đã “trút linh hồn” trong cái chết khi “máu và nước” chảy ra từ cạnh sườn Người (19:30,34), và ban tặng hồng ân này trọn vẹn vào buổi tối ngày phục sinh. Khi hiện ra ở phòng trên lầu, Chúa Giêsu, với toàn quyền, thở Thánh Thần trên các môn đệ với việc trao quyền tha tội (20:19-23). Và do đó, Thánh Thần trở nên sống cách trọn vẹn trong các môn đệ, kết hợp họ với Chúa Giêsu trong một cách vĩnh viễn. Nhờ Thánh Thần ấy, chính Chúa Giêsu vẫn còn hoạt động cách cá nhân, Lời hằng sống và cứu độ cho các môn đệ của Người trong mọi thời đại và mọi hoàn cảnh.

Thứ ba, nếu Chúa Giêsu làm các dấu chỉ vinh quang, cho thấy sự hiện diện và quyền năng cứu rỗi của Thiên Chúa trong sứ vụ của Người, thì trong Cuộc Khổ Nạn và cái chết của Người, Chúa sẽ tỏ lộ vinh quang của Người nhiều hơn nữa. Đây là “giờ vinh quang của Người” (12:23tt, 28tt.), lúc Người được nâng lên với kết quả là “khi nó xảy ra, các ông có thể tin rằng TA LÀ” (13:19), lúc Người sẽ nhận được vinh quang mà Người có với Chúa Cha “trước khi tạo thành thế gian” (17:1-5). Vì thế, Đức Kitô của Gioan tiếp tục tự nhận mình là “TA LÀ”. Khi quân lính hỏi về Giêsu thành Nazareth đến để bắt Người, Chúa không giống như Người Tôi Tớ Đau Khổ của Marcô, cam chịu và thường im lặng, trước chúng, với sức mạnh, nói rằng “TA LÀ”, khiến chúng ngã xuống trong sự yếu đuối của chúng trước mặt Người (18:48).

Như với mỗi chủ đề của của Gioan mô tả Đức Kitô, việc mặc khải vinh quang của Đức Kitô và  căn tính của Chúa Giêsu trong Thiên Chúa, Ngài ĐẤNG TA LÀ, cũng đạt đến cao điểm trong các tường thuật phục sinh. Sau khi các môn đệ (Thomas vắng mặt) thấy và nhận ra Chúa Giêsu là Chúa, chính Thomas đã gặp Đấng Phục Sinh chỉ để được thách đố: “Hãy xỏ ngón tay của con vào đây và xem bàn tay của Thầy …. Đừng nghi ngờ mà hãy tin.” Niềm tin, vào lúc này, đòi hỏi sự công nhận đầy đủ về CHÚA GIÊSU LÀ AI. Vì thế, Thomas tuyên xưng căn tính của Chúa Giêsu: “Lạy Chúa và Thiên Chúa của con” (20: 27f), diễn tả sự trổ bông của đức tin của một môn đệ của Gioan. Ở Cana, các môn đệ bắt đầu tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã cho thấy vinh quang của mình trong dấu chỉ ban đầu. Ở phòng trên lầu, người môn đệ tin trọn vẹn vì vinh quang của Chúa Giêsu được tỏ lộ cách trọn vẹn.

Đối với tác giả của Tin Mừng thứ tư, Chúa Giêsu là Chúa và Thiên Chúa, là Lời vĩnh cửu. Đức Khôn Ngoan Đấng mặc khải và làm một với Chúa Cha, Thiên Chúa siêu việt và sự hiện diện cứu độ hằng sống, mang sự sống vĩnh cửu đến cho tất cả những người tin. Độc giả của Tin Mừng này không thể không nhận ra sự hiện diện cứu rỗi siêu việt của Người. Người hiện diện cách cá nhân ngay cả bây giờ trong mỗi môn đệ trong quyền năng của tình yêu sống động và năng lượng của Thần Khí của Người, kết hợp tất cả với CHÍNH ĐẤNG TA LÀ. Vì thế, Tin Mừng kết thúc bằng một lời xác quyết từ môi miệng của Chúa Giêsu, không chỉ cho Nhóm Mười Một, mà cho mọi độc giả: “(Thomas,) Vì con đã thấy Thầy, nên con tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin” (20: 29tt).

Các Hình Ảnh của Đức Kitô trong Tin Mừng và việc Làm Kitô học

Sau khi phân tích bốn cách nhìn khác nhau cùa bốn thánh ký về Chúa Giêsu, bây giờ chúng ta có thể trở lại câu hỏi về bản chất của Kitô học. Nỗ lực của chúng ta ở đây là làm cho rõ ràng một số yếu tố và động lực thần học tiềm ẩn trong công việc của các thánh ký mà thành quả của chúng vừ được chúng ta xem xét. Điều được dự định ở đây chỉ đơn thuần là bước đầu; chúng ta sẽ tiếp tục các nỗ lực này trong toàn thể sách này. Trong chương này, chúng ta tìm cách nhấn mạnh đến các động năng thần học trong hoạt động được linh hứng  nhưng rất cá nhân của các thánh ký khi các ngài phác hoạ bốn chân dung riêng biệt của Chúa Giêsu: 1) theo niềm tin và truyền thống; 2) theo kinh nghiệm cá nhân về sự siêu việt nằm ở nguồn gốc của hình ảnh về Thiên Chúa và Đức Kitô; 3) theo bản chất được biến đổi của kinh nghiệm về Thiên Chúa; và 4) theo sự hợp nhất của Đức Kitô và đức tin trong nhiều hình ảnh khác nhau.

HÌNH ẢNH CỦA CHÚA GIÊSU — NIỀM TIN — TRUYỀN THỐNG

Theo sự phân tích về bản chất của thần học như được mô tả trong Chương 1 ở trên, những hình ảnh rõ ràng về Đức Kitô được trình bày bởi mỗi Tin Mừng sẽ được mô tả tốt nhất là niềm tin. Các ngài diễn tả, không những kinh nghiệm đức tin ban đầu về Đức Kitô, nhưng kinh nghiệm đức tin đã được suy niệm, tương quan đến nhiều chủ đề khác nhau trong truyền thống Do Thái và được giải thích theo ánh sáng của truyền thống ấy. Như thế, các hình ảnh này của Đức Kitô là kết quả của tiến trình làm thần học, hoặc trong trường hợp này, làm Kitô học. Như vậy, các ngài minh họa tốt một khía cạnh quan trọng của tiến trình ấy.  Các thánh ký, một thần học gia và tín hữu tìm cách giải thích kinh nghiệm đức tin của mình, nhất thiết dựa trên và sử dụng tốt một truyền thống trước đó mà chính truyền thống này đã giải thích và nói rõ một kinh nghiệm đức tin sống động. Thực ra, những gì người tín hữu này, vị thánh ký, đang làm là nhận thức rõ ràng về thực tế rằng Thiên Chúa siêu việt, Đấng đã hành động và mặc khải Bản Ngã siêu việt trong thời đại trước cho tổ tiên của người tín hữu này trong đức tin, rõ ràng là đã hành động trở lại. Các tín hữu rõ ràng nhận ra rằng Thiên Chúa đã hành động liên tục với quá khứ và đã hành động và mặc khải Bản Ngã siêu việt một cách siêu đẳng trong và qua Chúa Giêsu. Muốn làm Kitô học một tín hữu phải tham gia vào tiến trình 1) phục hồi truyền thống, 2) để cho truyền thống này hình thành sự hiểu biết của một người trong hiện tại, và 3) cập nhật hoá cùng mở rộng truyền thống ấy để bao gồm những kinh nghiệm gần đây và đầy đủ hơn về Thiên Chúa. Tiến trình này dẫn đến việc trình bày rõ ràng một tập hợp những niềm tin đầy đủ hơn, phong phú hơn và hấp dẫn hơn phản ảnh kinh nghiệm đức tin “đương thời” của thánh kỳ và và thính giả trực tiếp của ông.

HÌNH ẢNH ĐỨC KITÔ – KINH NGHIỆM VỀ THIÊN CHÚA

Hơn nữa, rõ ràng là điều thúc đẩy tiến trình này là việc nhà chú giải và thánh ký đã thực sự gặp gỡ Thiên Chúa siêu việt, Thiên Chúa cứu rỗi, sống trong và qua Chúa Giêsu. Điều này đúng cho dù ngài đã gặp Thiên Chúa trong hành động của Chúa Giêsu (như trong việc chữa lành hoặc trừ quỷ), trong giáo huấn của Chúa Giêsu (như việc làm trung gian cho Lề Luật Mới của Thiên Chúa), hoặc tối hậu trong chính Chúa Giêsu (như Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa ở giữa chúng ta). Nhờ Chúa Giêsu, những khát khao siêu việt của tâm hồn và trí khôn của người tín hữu, vươn tới ánh sáng, sự chữa lành, tình yêu và sự sống vượt ra ngoài những gì thế giới hữu hạn có thể ban cho, đã tìm thấy sự an ủi và lời hứa kiên vững. Nhờ Chúa Giêsu, những khát khao tự ngã siêu việt đã gặp được Thiên Chúa siêu việt và cứu rỗi. Những hình ảnh của Đức Kitô tìm cách giải thích và làm sáng tỏ, cũng như xác định, cách thế mà Thiên Chúa đã làm trung gian cho sự hiện diện cứu rỗi của chính Người cho người tín hữu. Vì nhu cầu và ao ước của tín hữu thì đa dạng, nên những đáp ứng của Thiên Chúa trong Đức Kitô hằng sống cũng có nhiều dạng khác nhau. Và cũng giống như tất cả thần học tìm cách giải thích kinh nghiệm sống và đức tin sống động cá nhân của một tín hữu về Sự Siêu Việt bằng cách sử dụng những hình ảnh và cách mô tả khác nhau về Sự Siêu Việt, nên thánh ký đã giải thích một kinh nghiệm cá nhân thực sự về Thiên Chúa trong và qua Chúa Giêsu bằng cách đưa ra những chân dung khác nhau của Chúa Giêsu. Vì thế, tác giả đang thực sự tìm cách trình bày sự thật rằng chính Thiên Chúa đã đến thăm người tín hữu trong Đức Kitô và Thiên Chúa đã làm trung gian cứu rỗi qua Đức Kitô bằng nhiều cách.

HÌNH ẢNH ĐỨC KITÔ – SỰ BIẾN ĐỔI CÁ NHÂN

Hơn nữa, kinh nghiệm về Thiên Chúa luôn luôn biến đổi. Sự chữa lành, ánh sáng và sự hiểu biết; sự thoải mái, cảm giác về một tình yêu sâu thẳm, sự bình an của sự hiện diện của Thiên Chúa: tất cả những kinh nghiệm như thế về Thiên Chúa gây hứng khởi cho một sự thay đổi trong cách sống của một tín hữu.59 Do đó, phép lạ chữa lành không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý của tín hữu, mà còn cũng mở tâm hồn để biết ơn, chuẩn bị cho thụ nhân thành môn đệ. Việc công bố Luật Mới không những chỉ thách thức con người mà còn mời gọi và thúc đẩy họ bước đi một cách cụ thể trong quyền năng của triều đại Thiên Chúa. Chứng từ của việc tận tụy bênh vực người nghèo và lòng thương xót từ bi đối với tất cả mọi người thôi thúc và làm cho con người có khả năng trút bỏ chính mình trong một tình yêu bao gồm và thương xót phản ảnh sự sống của Thiên Chúa. Cơ hội đặt trọn niềm tin, lòng tín thác và tình yêu trọn vẹn vào Đức Khôn Ngoan sáng tạo Nhập thể thỏa mãn những đói khát sâu thẳm nhất của một người và cho người ta nếm trước hương vị của đời sống vĩnh cửu lúc này. Người tín hữu được thay đổi bởi kinh nghiệm về Thiên Chúa trong Đức Kitô và những thay đổi ấy được phản ảnh trong cách sống cụ thể mà người tín hữu chấp nhận sau đó. Mỗi cách gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Kitô, mỗi cách nhận thức khác biệt về Đức Kitô, đều có những kết quả biến đổi trên thánh ký cũng như người môn đệ. Và vì vậy, những mô tả khác nhau về Đức Kitô không chỉ nói lên việc thăm viếng Dân Ngài của Thiên Chúa, mà còn cả cách dân chúng trải nghiệm chính họ được Chúa Giêsu biến đổi để có cuộc sống sung mãn hơn trên thế gian và trong cộng đồng, khi Người nói và hành động vì họ.

NHIỀU HÌNH ẢNH – MỘT ĐỨC KITÔ – MỘT ĐỨC TIN

Cuối cùng, việc mỗi Tin Mừng trong bốn Tin Mừng trình bày một số hình ảnh riêng biệt về Chúa Giêsu cho thấy rằng người ta không cần phải nói rõ mọi khía cạnh của cuộc đời, giáo huấn, tác vụ và căn tính cá nhân của Đức Kitô để đạt được sự hiểu biết cứu độ về Người hoặc gặp được Thiên Chúa cứu độ, Đấng hành động trong và qua Người. Một số bình diện của cuộc đời và con người của Chúa Giêsu, được nhấn mạnh trong một Tin Mừng, chỉ đơn thuần tạo thành hậu cảnh của Tin Mừng khác. Thực trạng này cho thấy đức tin chân chính có thể gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống một cách hợp pháp qua Chúa Giêsu bằng nhiều cách khác nhau, mỗi cách đều trọn vẹn như một con đường tự tỏ mình ra và hành động cứu rỗi của Thiên Chúa. Mỗi cách mà Chúa Giêsu làm trung gian cho tình yêu của Thiên Chúa tự nó thực sự đưa người tín hữu đến tiếp xúc với tình yêu ấy. Khi Thiên Chúa tỏ lộ bất cứ điều gì về ý định của Ngài trong và qua Đức Kitô, thì chính Thiên Chúa duy nhất và cùng một Thiên Chúa dẫn dắt; là Thiên Chúa thật mà người ta gặp. Cũng thế, trong mỗi hành động đặc biệt của Chúa Giêsu, thì chính là một Chúa Giêsu thật mời gọi từng cá nhân hãy thực sự tin vào Người.

Sự thực là tính đa dạng về hình ảnh mà mỗi hình đặc trưng cho cùng một Chúa Giêsu, cùng một quyền năng ở trong Người, thích hợp cho các tín hữu và cho sự phát triển đức tin cá nhân hôm nay. Với người môn đệ thời nay, như những người hợp thành khán giả của các thánh ký, có thể và sẽ gặp gỡ Đức Kitô trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trong những hoàn cảnh ấy, họ có thể được đánh động bởi một hành động nào đó của Chúa Giêsu hoặc bởi một giáo huấn nào của Người, mà không bởi những hành động hoặc giáo huấn khác của Người. Một hình ảnh sẽ cung cấp cho người tín hữu một con đường đích thực để đến với Đức Kitô và Thiên Chúa siêu việt hoạt động trong và qua Người ngay cả lúc này. Vào lúc ấy, cách hình dung cụ thể một Đức Kitô có sức hấp dẫn mạnh mẽ như vậy là tất cả những gì cần thiết để người môn đệ được Chúa chạm đến và được biến đổi hơn nữa trong đức tin.

Mặt khác, không một cách tỏ mình ra nào của Chúa Giêsu là hoàn toàn đầy đủ, hoặc như một sự đại diện của Chúa Giêsu hoặc như một hình ảnh của Thiên Chúa siêu việt. Cần phải có nhiều chân dung để đại diện cho Đức Kitô thực sự và sự trọn vẹn của sự mặc khải của Thiên Chúa nơi Người. Cần có nhiều hình ảnh để diễn tả sự trọn vẹn của truyền thống Tin Mừng, truyền thống mà nói chung là sự phát triển của các niềm tin của Hội Thánh. Hình ảnh này tinh luyện hình ảnh kia, điều chỉnh và mở rộng hình ảnh khác.

Thực tại này cũng liên quan đến các tín hữu đương thời. Sớm hay muộn, hoàn cảnh sống và tính đặc thù của những nhu cầu và ao ước sâu xa nhất của một người sẽ thay đổi. Vào lúc đó, người môn đệ sẽ thắc mắc về một điều gì mới và xa hơn về Đức Kitô và về Sự Siêu Việt. Khi Thiên Chúa trong Đức Kitô đáp lại, Ngài sẽ hành động theo những cách thức mới. Người môn đệ sẽ cần và/hoặc tạo ra một hình ảnh mới về Thiên Chúa và về Đức Kitô như một sự diễn tả của kinh nghiệm nhiều hơn về Chúa cứu độ.66 Cuối cùng, họ sẽ hiểu rằng không có hình ảnh nào hoàn toàn thỏa mãn thoả mãn nhu cầu của họ; vì người ta không thực sự tìm kiếm một hình ảnh mà mà tìm kiếm ơn cứu độ qua mối liên hệ sâu đậm với Thiên Chúa siêu việt trong Chính Thiên Chúa.61

Nhưng đâu là yếu tố Hội Thánh trong việc làm Kitô học? (Chúng tôi đã lưu ý trong Chương 1 rằng tất cả các thần học đều có tính Hội Thánh.) Và tại sao mỗi thánh sử mô tả Chúa Giêsu theo cách riêng của Tin Mừng của mình mà không phải theo các quan điểm khác? Thảo luận ở trên không trả lời những câu hỏi này mà còn gây thêm thắc mắc. Chương sau được dành riêng để làm sáng tỏ những động lực quan trọng này của tiến trình này. Nhưng trước khi chúng ta quay sang những vấn đề này, người đọc nên suy nghĩ về những câu hỏi sau đây. Một lần nữa, chúng có ý giúp bạn hiểu các tài liệu đã bàn ở trên và tham gia đầy đủ hơn vào việc làm Kitô học như một nhiệm vụ cá nhân và đầy đức tin.

Các câu hỏi để suy nghĩ và thảo luận

1. Hình ảnh nào của Chúa Giêsu được mô tả trong chương này thu hút bạn nhất? Tại sao?

2. Bạn có biết những cách khác (ngoài những cách được đưa ra trong chương này) mà trong đó bất kỳ tác giả Tin Mừng nào đã mô tả về Chúa Giêsu không? Nếu có, bạn tìm thấy những ý nghĩa gì trong những mô tả ấy?

3. Chân dung của Chúa Giêsu của Marcô thích hợp với hoàn cảnh nào và gây cảm hứng về đức tin cho loại khán giả nào? Những nhóm người nào có thể sẽ tìm kiếm Chúa Giêsu như được mô tả trong Tin Mừng Marcô? (Vui lòng suy nghĩ và trả lời các câu hỏi tương tự liên quan đến chân dung của Chúa Giêsu trong ba Tin Mừng khác.)

4. Bạn có thấy tầm quan trọng nào trong việc sử dụng các tình tiết, giáo huấn và hình ảnh từ Cựu Ước của các thánh ký trong nỗ lực mô tả Chúa Giêsu của các ngài không? Những đoạn nào được trích từ Cựu Ước đã giúp bạn hiểu sâu xa hơn về Chúa Giêsu?

5. Bạn có biết bất cứ ai đã nói về kinh nghiệm cá nhân ấn tượng về Chúa Giêsu không? Họ đã mô tả Đức Kitô như thế nào? Kinh nghiệm đó đã ảnh hưởng như thế nào, thậm chí biến đổi, cuộc sống của người ấy?

6. Kinh nghiệm của bạn về Đức Kitô là gì? Bạn sẽ diễn tả kinh nghiệm ấy cách nào?