CHƯƠNG 14 – SỰ SỐNG LẠI VÀ TỨ CHUNG

Xác Loài Người Ngày Sau Sống Lại

Kinh Tin Kính kết thúc với lời tuyên xưng: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.”  Chúng ta vững tin và hy vọng chắc chắn rằng sau khi chết người công chính sẽ sống mãi với Ðức Kitô Phục Sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết.  Sự sống lại này là công trình của Ba Ngôi, và là niềm tin cốt yếu của đức tin Kitô giáo. (988-991).

Sự sống lại của Ðức Kitô và của chúng ta (992-1004)

Việc kẻ chết sống lại được Thiên Chúa mặc khải từng bước trong các sách Maccabê 2, Ðaniel và Khôn Ngoan.  Những người Pharisiêu và nhiều người đương thời với Chúa Giêsu tin vào sự sống lại.  Chúa Giêsu đã giảng dạy rõ ràng về việc kẻ chết sống lại khi tranh luận với phái Xa Ðốc.  Người còn liên kết đức tin về sự phục sinh với bản thân của Người: “Ta là sự sống lại và là sự sống.”  Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, các tín hữu đã liên kết đức tin vào Người với sự sống lại của chúng ta lại với sự sống đời đời(992-996).

Cách sống lại – Khi chết, hồn lìa xác, thân xác bị hư nát và linh hồn đến gặp Thiên Chúa trong tình trạng chờ được tái hợp với thân xác.  Thiên Chúa toàn năng sẽ làm cho thân xác chúng ta vĩnh viễn không còn hư nát nữa khi hợp nhất nó với linh hồn nhờ hiệu năng của Chúa Giêsu Phục Sinh.   Mọi người đã chết đều sẽ phục sinh (997-1001).

Sống lại với Đức Kitô – Nhờ Chúa Thánh Thần, cuộc đời Kitô hữu đã dự phần vào cái chết và sự Phục Sinh của Ðức Kitô ngay từ đời này.  Ðược kết hợp với Ðức Kitô nhờ bí tích Thánh Tẩy, các tín hữu thật sự tham dự vào đời sống trên trời của Ðức Kitô Phục Sinh, nhưng sự sống này còn “ẩn tàng với Ðức Kitô trong Thiên Chúa”.  Khi chúng ta được phục sinh vào ngày sau hết, chúng ta sẽ “xuất hiện với Người và cùng Người hưởng phúc vinh quang”.  Thiên Chúa đã làm cho Ðức Kitô sống lại, cũng sẽ cho chúng ta sống lại (1002-1004).

Chết trong Ðức Kitô (1005-1019)

Muốn được phục sinh với Ðức Kitô, chúng ta phải cùng chết với Người.  Chết là hồn lìa khỏi xác.  Hồn sẽ hợp lại với xác trong ngày kẻ chết sống lại (1005).

Chết – Là người ai cũng phải chết. Chết là chấm dứt cuộc đời dương thế, nhưng không phải là hết.  Đức tin cho chúng ta biết rằng chết là “tiền công của tội lỗi”.  Mặc dù theo bản tính tự nhiên con người phải chết, nhưng Thiên Chúa đã muốn nó không phải chết.  Ðối với những người chết trong ân sủng Ðức Kitô, chết là được biến đổi trong Đức Kitô, vì chết là tham dự vào cái chết của Người để được cùng sống lại với Người.  Nhờ vâng phục, Ðức Kitô đã biến đổi cái chết thành lời chúc lành cho chúng ta (1006-1009).

Cái chết của Kitô hữu mang một ý nghĩa tích cực nhờ Ðức Kitô.  Qua bí tích Thánh Tẩy, các Kitô hữu đã cùng chết với Người cách bí nhiệm để sống một đời sống mới.  Chết là kết thúc cuộc lữ hành trần thế, kết thúc thời gian Thiên Chúa cho ta sống ở thế gian để làm theo ý Chúa và quyết định số phận đời đời của mình.  Qua cái chết, Thiên Chúa gọi ta về với Ngài.  Hội Thánh khuyên chúng ta chuẩn bị cho giờ chết như chúng ta phải chết ngay hôm nay.  Chúng ta xin Ðức Mẹ bầu cử cho chúng ta trong giờ chết, và phó mình trong tay Thánh Giuse, quan thày của những người chết lành (1010-1019).

Tôi Tin Có Sự Sống Đời Đời

Vì kết hợp cái chết của mình với cái chết của Chúa Giêsu, nên đối với Kitô hữu, chết là bước vào cuộc sống đời đời với Chúa.  Niềm tin của Hội Thánh vào sự sống đời đời được diễn tả trong kinh nguyện, trong bí tích Hòa Giải, Xức Dầu Thánh và Thánh Thể (1020).

Phán Xét Riêng (1021-1022)

Chết kết thúc đời sống con người, nghĩa là chấm dứt thời gian đón nhận hay chối bỏ ân sủng Thiên Chúa được biểu lộ trong Ðức Kitô.  Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Ðức Kitô, hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện.

Thiên Ðàng (1023-1029)

Những người chết trong ân sủng và đã được thanh luyện trọn vẹn, sẽ sống mãi với Ba Ngôi trên Thiên Ðàng cùng Ðức Mẹ, các thánh và các thiên sứ.  Thiên Ðàng là mục đích tối hậu và là sự hiện thực các nguyện vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc.  Nhờ đã chết và sống lại, Đức Kitô đã mở cửa Thiên Ðàng cho chúng ta.  Thiên Ðàng là cộng đồng vĩnh phúc gồm tất cả những người đã được nhập trọn vẹn vào Ðức Kitô.  Kinh Thánh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, nhà Cha, Thành Giêrusalem Thiên Quốc,… để nói về Thiên Ðàng.  Hạnh phúc lớn nhất là được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, gọi là “Phúc Kiến.”  Trên Thiên Ðàng, các thánh vẫn tiếp tục hân hoan thi hành thánh ý Thiên Chúa đối với những người khác và toàn thể các tạo vật.  Và các ngài đã bắt đầu hiển trị với Ðức Kitô.

 Luyện Ngục, nơi thanh luyện cuối cùng (1030-1032)

Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, chắn chắc được cứu độ đời đời, nhưng phải thanh luyện để đạt được sự thánh thiện cần thiết mà vào Thiên Ðàng.  Hội Thánh gọi tình trạng thanh luyện cuối cùng này là “lửa luyện ngục”.  Không ai biết rõ bản chất của sự thanh luyện này.  Lửa này có thể là lửa Tình Yêu Chúa chứ không phải là lửa vật chất. Niềm tin vào luyện ngục căn cứ vào các câu nói về việc thanh luyện sau khi chết như 1Cor 3:15; 1Pr 1:7; Mt 12:31, và tập quán cầu nguyện cho những người quá cố mà Kinh thánh đã nói đến trong 2 Maccabê.  Hội Thánh khuyên chúng ta xin lễ, bố thí, hy sinh và nhường các ân xá cho những người đã qua đời.

Hỏa Ngục (1033-1037)

Ðể kết hợp với Thiên Chúa trên Thiên Ðàng, chúng ta phảitự nguyện yêu mến Ngài.  Những ai phạm tội trọng là chối từ tình yêu của Thiên Chúa, và không chịu sám hối, thì tự mình xa lià Thiên Chúa.  Tình trạng xa lià Thiên Chúa này gọi là Hỏa Ngục.  Chúa Giêsu thường nói về “hỏa ngục”, về “lửa không hề tắt”, dành cho những kẻ đến chết vẫn không tin và không chịu hoán cải.  Hội Thánh dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời.  Cực hình chính của hỏa ngục là đời đời bị tách rời Thiên Chúa.  Vì thế chúng ta phải có trách nhiệm sử dụng tự do để đạt tới hạnh phúc đời đời.  Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hỏa ngục. Trong phụng vụ Thánh Thể và trong kinh nguyện hằng ngày của tín hữu, Hội Thánh khẩn cầu Thiên Chúa từ bi, Ðấng “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải”.

Phán Xét Chung (1038-1041)

Trong ngày tận thế, tất cả mọi người sẽ phải ra trước toà Ðức Kitô để chịu Phán Xét Chung.  Chỉ mình Chúa Cha biết ngày giờ và quyết định khi nào việc này xảy ra.  Phán xét này không thay đổi kết quả của phán xét riêng, nhưng cho thấy rõ những việc lành dữ mỗi người đã làm hoặc đã bỏ qua khi còn sống.  Cuộc đời ta đem lại những ảnh hưởng tốt và xấu của việc ta làm sẽ tiếp tục sau khi ta chết, và chỉ đến ngày tận thế mới rõ những hậu quả sâu xa của chúng.  Chỉ khi đó ta mới thông hiểu ý nghĩa tối hậu của toàn bộ công trình sáng tạo, mầu nhiệm cứu độ và những con đường kỳ diệu Thiên Chúa Quan Phòng dẫn dắt mọi sự đến mục đích tối hậu của chúng.  Sứ điệp về phán xét chung mời gọi con người sám hối, trong khi Thiên Chúa còn cho “thời gian thi ân, thời gian cứu độ.”  Sứ điệp này nhắc nhở chúng ta kính sợ Thiên Chúa, khuyến khích ta dấn thân cho Nước Trời.

 Niềm hy vọng vào Trời Mới Ðất Mới (1042-1060)

Thánh Kinh dạy rằng Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong ngày tận thế.  Sau phán xét chung, những người công chính, được vinh thăng cả hồn lẫn xác để hiển trị muôn đời với Ðức Kitô và toàn thể vũ trụ sẽ được đổi mới thành một “Trời mới, đất mới”.  Sự hoàn tất chương trình của Thiên Chúa này sẽ kết hợp chúng ta với Thiên Chúa và với nhau trong đức ái hoàn hảo.  Chúng ta sẽ có một liên hệ mới với các tạo vật và có thể thưởng thức vẻ tráng lệ của Thiên Chúa được biểu lộ qua các tạo vật.  Chúng ta không biết được thời gian và cách thức biến đổi của vũ trụ.  Nhưng biết chắc rằng thế giới lệch lạc vì tội lỗi sẽ qua đi, và Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới, nơi công bằng ngự trị.  Sự trông đợi này thúc đẩy chúng ta nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới.

Lâm Bô

Lâm bô là tình trạng hạnh phuc tự nhiên (nhưng không siêu nhiên) của những người lành hay những trẻ em chết mà không được rửa tội. Vì không vẫn còn mắc tội Tổ Tông nên họ không được vào Thiên Đàng, nhưng vì không mắc tội trọng riêng nên họ không phải chịu những hình phạt của hoả ngục.

Tuy nhiên đấy chỉ là những suy tư thần học của các Giáo Phụ và các Thánh, chứ không phải al2 giáo huấn chính thức, hay tín điều của Hội Thánh. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo không đề cập đến Lâm Bô. Thực ra, trong các câu 1257-1261, Hội Thánh dậy rõ rằng rằng chúng ta có lý do để tin rằng những người mà trước kia được phỏng đoán là ở Lâm Bô có thể được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng vì lòng thương xót cao cả của Thiên Chúa, như câu 1261 của sách Giáo Lý viết:

Về các trẻ em chết mà chưa được lãnh bí tích Rửa Tội, Hội Thánh chỉ biết phó dâng các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa, như Hội Thánh đã làm trong nghi lễ an táng dành cho các em. Thật vậy, lòng thương xót cao cả của Thiên Chúa, “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4) và lòng thương mến của Chúa Giêsu đối với trẻ em khiến Người đã nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng” (Mc 10,14) cho phép chúng ta hy vọng rằng, có một con đường cứu độ dành cho những trẻ em chết mà chưa chịu Phép Rửa. Hội Thánh cũng hết sức khẩn thiết kêu gọi, đừng ngăn cản các trẻ em không cho chúng đến với Đức Kitô nhờ hồng ân của bí tích Rửa Tội.

Amen

Kinh Tin Kính, cũng như quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh, kết thúc bằng chữ Amen của tiếng Do Thái.  Hội Thánh cũng chấm dứt các kinh nguyện của mình bằng “Amen”.  Tiếng Amen có cùng gốc với chữ “tin”, biểu thị sự vững bền, sự đáng tin cậy, sự trung tín.  Vì vậy, từ “Amen” nói về sự trung tín của Thiên Chúa đối với chúng ta và sự tin cậy của chúng ta đối với Ngài.  Như thế, đời sống hằng ngày của chúng ta phải là tiếng thưa “Amen” cho câu tuyên xưng “Tôi tin” khi nhận bí tích Thánh Tẩy.  Sau hết Ðức Kitô là chữ “Amen” của chúng ta, là chung cuộc của mọi lời hứa của Thiên Chúa.

Bài Đọc Thêm

Căn Bản Giáo Lý về Sự Sống Lại và Tứ Chung

ĐTC Phanxicô: Cái Chết của Chúng Ta

ĐTC Phanxicô: Sự Sống Lại của Chúng Ta

ĐTC Phanxicô: Phán Xét Chung

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Tứ Chung