Current Video
For English version Click Here
Please watch the videos and answer the following questions:
- What is Freedom?
- How to distinguish between true love and selfish love?
Coi Video thứ` hai dưới đây và trả lời hai câu hỏi sau:
- Tự Do là gì?
- Làm sao phân biệt giữa tình yêu thật và tình yêu ích kỷ?
Trong bài trước, chúng tôi đã đề cập đến chủ đề về sự kết hợp giữa người nam và người nữ khi họ được mới được tạo ra, rút ra từ chu kỳ dạy giáo lý thứ nhất (bài 1-23) của Thánh Gioan Phaolô II về thần học thân xác. Bài này đề cập đến chu kỳ thứ hai của bài giáo lý của Đức Thánh Cha (24-63) về sự trong sạch của tâm hồn.
Các chủ đề phụ mà chúng tôi sẽ đề cập trong bài viết này là:
- Tại sao sự trong sạch của tâm hồn là chủ đề của chu kỳ thứ hai
- Tại sao Chúa Giêsu bác bỏ quan niệm theo Lề Luật về sự trong sạch
- Các truyền thống Cựu Ước mở đường cho giáo huấn của Chúa Giêsu
- “Ethos” Tin Mừng cần thiết để đạt được sự trong sạch của tâm hồn
- Tại sao Chúa Giêsu nói về một người nam nhìn một người nữ một cách thèm muốn, chứ không phải ngược lại
- Một người nam có thể thèm muốn nhìn vợ của mình không?
- Quan niệm về sự trong sạch của Thánh Phaolô bổ sung cho ý niệm của Chúa Giêsu như thế nào
- Vai trò xã hội của đức khiết tịnh
1. Tại sao Thánh Gioan Phaolô II lại tiếp cận chủ đề về sự trong sạch của tâm hồn trong chu kỳ thứ hai này?
Đức Giáo Hoàng muốn làm theo giáo huấn của Đức Kitô về con người mới mà Ngài muốn chúng ta trở thành. Thánh Phaolô nói: “Vì vậy, nếu ai ở trong Đức Kitô, thì người ấy là thụ tạo mới; cái cũ đã qua đi, kìa, cái mới đã đến”. (2 Cor 5:17). Chúa Giêsu Kitô muốn chúng ta được đổi mới trong đời sống nội tâm để đời sống thể xác của chúng ta thực sự diễn tả cách thể lý sự đổi mới này của đời sống tâm linh của chúng ta.
Giờ đây, trong Thánh Kinh, chỗ nơi thâm sâu của đời sống tâm linh và luân lý được gọi là “tâm hồn”. Theo Lời Chúa, tâm hồn là “nơi sâu thẳm của con người, nơi con người quyết định theo hay chống lại Thiên Chúa” (GLCG 368). Đức Kitô muốn thanh tẩy tâm hồn chúng ta bằng giáo huấn của và ân sủng của Người, để cuộc sống của chúng ta thực sự bày tỏ sự dồi dào của sự công chính (sự thánh thiện hay sự công chíh) mà Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.
Trong những suy tư trước đây, chúng ta đã thấy cách Thiên Chúa tạo ra người nam và người nữ để kết hôn. Chúng ta cũng thấy cách Đức Kitô muốn chúng ta trở lại sự kết hợp nguyên thủy giữa người nam và người nữ trong tất cả sự trong sạch và phong phú của nó, khôi phục sự kết hợp và bất khả phân ly của hôn nhân. Về cơ bản, đó là những gì Người đã dạy trong Matthêu 19: 3-6, đoạn chính của chu kỳ trước. Do đó, mối quan hệ nam nữ trong hôn nhân là chìa khóa hoặc khuôn mẫu cho mối quan hệ đúng đắn của con người với Thiên Chúa và những người khác. Nhưng mối quan hệ đó bắt đầu từ tâm hồn.
Cho nên, đoạn chính sẽ là đối tượng để suy niệm trong chu kỳ thứ hai này là Matthêu 5: 27-28: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: ‘Chớ ngoại tình’. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”.
Chúa Giêsu dạy rằng nếu không có sự thanh luyện tâm hồn thì việc giữ Giới Răn Thứ Sáu bên ngoài, là giớim răn cấm ngoại tình sẽ không làm cho người nam hay người nữ trở nên công chính hoặc thánh thiện trước mặt Thiên Chúa. Do đó, Người đã cảnh báo chúng ta về một cách giải thích sai lầm về Lề Luật và các Ngôn sứ – một cách giải thích các Giới răn thu gọn chúng vào việc tuân giữ bề ngoài, một cách giải thích theo luật pháp. Cách giải thích này là điển hình của nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo của Israel vào thời Chúa Giêsu. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu cảnh báo: “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (5:20).
2. Cách giải thích theo Lề Luật về sự trong sạch mà Đức Kitô bác bỏ là gì?
Kể từ buổi đầu của lịch sử dân Israel, các Tổ phụ đã rời bỏ ý nghĩa ban đầu của hôn nhân là duy nhất và không thể phân ly bởi thực hành đa thê (xem Sáng thế, chương 16, 25, 29, v.v.). Mặc dù chế độ đa thê chưa bao giờ phổ biến trong Dân Chúa, nhưng chế độ này chưa bao giờ bị lên án là vi phạm điều cấm ngoại tình. Lý do cho điều này là người Israel rất kính trọng các Tổ phụ và coi họ là người mộ đạo thành. Các Tổ phụ và những người chủ trương đa thê khác của Israel (chẳng hạn như các Vua Đavít và Salômôn) không ngược đãi vợ của họ. Nhưng sự rộg lượng đó không làm gì để giúp khôi phục lại ý nghĩa thực sự và nguyên thủy của hôn nhân.
Vấn đề là thực hành này đã dẫn đến một quan niệm rất duy lề luật về hôn nhân và do đó về ngoại tình. Theo truyền thống lề luật của Cựu ước, ngoại tình được coi là một hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Những người theo chủ nghĩa đa thê sở hữu vợ của họ. Do đó, tội ngoại tình được thu gọn vào việc quan hệ tình dục với vợ hợp pháp của người khác, vốn có thể có nhiều vợ một cách hợp pháp.
Cách giải thích duy lề luật này cũng phương hại đến cách giải thích đúng đắn của Giới răn Thứ Chín: “Các ngươi không được thèm muốn vợ của người lân cận của mình” (Xuất Hành 20:17). Lưu ý rằng trong cùng câu này, các đối tượng khác của tài sản không được thèm muốn là nhà, con bò, con lừa, v.v. của hàng xóm. Sự giải thích bên ngoài của việc cấm ngoại tình là vi phạm quyền sở hữu theo lý lẽ không thể tạo ra sự trong sạch của tâm hồn có khả năng chống lại hành động thèm muốn, ngoại tình, ô uế, hoặc dục vọng của nội tâm. Chúa Giêsu nhận ra điều này và tìm cách khôi phục ý nghĩa thực sự của Giới răn Thứ Sáu, và ngụ ý là ý nghĩa ban đầu của giao ước hôn nhân. Ý nghĩa ban đầu của hôn nhân nhất thiết phải bao gồm sự trong sạch của tâm hồn như là người bảo vệ nội tâm của nó chống lại sự ngoại tình, thèm muốn, ô uế và thèm khát.
3. Những truyền thống Cựu Ước nào khác tỏ lộ chiều kích bên trong của hành vi ngoại tình?
Có hai truyền thống trong Cựu Ước, mặc dù không hoàn hảo, đã mở đường cho giáo huấn của Chúa Giêsu chống lại tội ngoại tình và sự ô uế, và ủng hộ ý nghĩa ban đầu của hôn nhân: truyền thống của các Ngôn sứ và văn chương khôn ngoan.
Truyền thống Ngôn sứ
Truyền thống Ngôn sứ nhằm khôi phục lòng trung thành của dân Israel với Giao ước của Thiên Chúa (còn gọi là Giavê hay Đức Chúa). Đức Chúa hứa với dân Israel sự bảo vệ của Ngài, một vùng đất mới và sự giàu có để thỏa mãn nhu cầu của dân chúng. Về phần họ, dân Israel hứa sẽ tuân giữ Mười Giới răn mà Thiên Chúa đã ban cho họ qua ông Môsê (xem Đệ Nhị Luật, chương 5).
Nhưng các Ngôn sứ nhận ra rằng dân Israel đã vi phạm Giới răn thứ nhất của Luật Thiên Chúa khi đi theo các thần khác và thờ ngẫu tượng của chúng. Điểm đặc biệt của truyền thống này là các Ngôn sứ đã so sánh việc thờ ngẫu tượng với tội ngoại tình. Đến lượt nó, phép loại suy này ngụ ý việc sử dụng sự tương tự của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để diễn tả giao ước giữa Đức Chúa và dân Israel.
Đức Chúa luôn yêu dân Israel như hiền thê của Ngài, nhưng đôi khi Israel phản bội tình yêu này bằng cách thờ các thần khác. Trong những trường hợp đó, Đức Chúa trừng phạt Israel để khiến nó nhận ra tội lỗi của mình và tỉnh ngộ. “Ta sẽ trừng phạt nó vì những ngày của Baan, những ngày nó đốt hương thờ kính chúng, những ngày nó đeo nhẫn, đeo kiềng chạy theo đám tình nhân của nó, còn Ta thì nó nỡ bỏ quên – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA” (Hosea 2:13).
Nhưng một khi Israel ăn năn, thì Đức Chúa lại nhận nàng làm hiền thê của Ngài:
“Đừng sợ chi: ngươi sẽ không phải xấu hổ, chớ e thẹn: ngươi sẽ không phải nhục nhằn. Thật vậy, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân và không còn nhớ bao nhục nhằn thời goá bụa. Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi, tôn danh Người là ĐỨC CHÚA các đạo binh; Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en, tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất. Phải, ĐỨC CHÚA đã gọi ngươi về, như người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm thần sầu muộn. Người vợ cưới lúc thanh xuân, ai mà rẫy cho đành?” Thiên Chúa ngươi phán như vậy. “Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp. Lúc lửa giận bừng bừng, Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót, ĐỨC CHÚA, Đấng cứu chuộc ngươi, phán như vậy.” (Isaia 54: 4-8)
Tầm quan trọng của truyền thống này là bằng cách minh họa hôn nhân theo giao ước giữa Đức Chúa và Israel qua việc sử dụng cuộc hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, các Ngôn sứ đã chuẩn bị con đường cho Đức Kitô để khôi phục hoàn toàn hôn nhân như duy nhất (một vợ một chồng) và bất khả phân ly (chung thủy). Thật vậy, theo truyền thống Ngôn sứ này, thì thật là một điều quái dị khi coi rằng Đức Chúa sẽ có nhiều vợ hoặc tình yêu của Ngài dành cho dân Israel là một tình yêu kém chung thủy.
Ngoài ra, theo truyền thống Ngôn sứ, ngoại tình có thể được định nghĩa một cách chính xác là hành vi tình dục giữa một người nam và một người nữ, trong đó ít nhất một người trong họ đã kết hôn với người khác. Định nghĩa này coi ngoại tình như một tội lỗi của thân xác. Mặc dù chiều kích bên trong của tội này không được nhấn mạnh, nhưng nó cũng không bị gạt sang một bên, và trên thực tế, nó đã mở đường cho một truyền thống Cựu Ước khác đã nhấn mạnh và lên án rất rõ ràng, các hành vi ngoại tình, dâm dục và ô uế nội tâm: văn chương khôn ngoan (Khôn ngoan, Shuấn Ca, Châm ngôn, Giảng Viên, Gióp, Tánh Vịnh, Nhã Ca).
Văn Chương Khôn Ngoan
Văn chương khôn ngoan, mặc dù không hoàn hảo, đã cảnh báo nghiêm khắc với cái nhìn ngoại tình và ham muốn thèm khát bên trong của một người nam (đặc biệt là một người nam trẻ) đối với “một người nữ xấu xa”. Thí dụ, có đoạn văn sau đây từ Sách Châm ngôn:
“Vì giới răn là ngọn đèn, giáo huấn là ánh sáng, và lời quở trách bảo ban là đường dẫn tới sự sống, nhờ đó con sẽ được giữ gìn khỏi tay người đàn bà trắc nết, khỏi lời đường mật của người phụ nữ đã có chồng. Đừng để sắc đẹp nó quyến rũ lòng con, đừng để ánh mắt nó làm con mê mẩn. Vì gái điếm chỉ đòi một ổ bánh thôi, còn người phụ nữ đã có chồng làm hỏng cả một cuộc đời cao quý”. (Châm ngôn 6: 23-26; xem thêm Huấn Ca 9: 1-9)
Văn chương khôn ngoan không phải lúc nào cũng coi người nữ là một kẻ dụ dỗ hay một cô gái điếm. Nó cũng ca ngợi người vợ tốt, như trong đoạn này trong Sách Huấn Ca:
“Phúc thay ai cưới được vợ hiền, tuổi thọ sẽ tăng lên gấp đôi. Vợ đảm đang khiến chồng được sung sướng, được an vui suốt cả cuộc đời. Vợ hiền là số tốt phận may dành cho những người kính sợ Đức Chúa: Giàu hay nghèo, lòng vẫn cứ an vui, lúc nào nét mặt cũng tươi cười”. (Huấn ca 26: 1-4; xem thêm Châm ngôn 31: 10-31)
Tuy nhiên, văn chương khôn ngoan đã không đưa ra một đặc tính tương ứng để phản công những khuynh hướng dâm dục, ngoại tình và ô uế trong tâm hồn của một người nam. Bởi “ethos” có nghĩa là tập hợp các giá trị và nhân đức tính phải ở nội tâm của một tâm hồn con người rong sạch. Chúng ta sẽ phải đợi cho đến khi giáo huấn của Chúa Giêsu để khám phá ra đặc tính này.
Tuy nhiên, bất chấp những thiếu sót của nó, văn chương khôn ngoan đã mở đường cho những giáo huấn của Đức Kitô về sự trong sạch của tâm hồn.
4. Làm sao chúng ta có thể khám phá ra “ethos” của Tin Mừng trong việc Chúa Giêsu lên án tội ngoại tình trong lòng?
Việc Chúa Giêsu lên án việc ngoại tình trong lòng ở Matthêu 5: 27-28 không chỉ là lời lên án, mà còn là lời mời gọi tâm hồn mọi người khám phá ra mặt trái của điều Người đang lên án. Tuy nhiên, để thực hiện khám phá này, chúng ta cần xem xét những biến dạng mà sự dục vọng đã gây ra cho ý nghĩa phối ngẫu nguyên thủy của thân xác.
Hãy nhớ lại rằng ý nghĩa phối ngẫu nguyên thủy của thể xác bao gồm khả năng mà Thiên Chúa ghi khắc trong than xác con người là dấu chỉ hữu hình cho thấy tình yêu vô hình của Thiên Chúa đối với thụ tạo của Ngài và đặc biệt là đối với người nam và người nữ. Thân xác cũng được coi là một dấu chỉ thể chất và biểu hiện tình yêu của con người đối với tha nhân. Theo nghĩa này, chúng ta nói đến ý nghĩa cá nhân của Thân xác, rằng Thân xác con người được dùng để bộc lộ con người chính như một con người chứ không phải là một vật thể hay một cái gì đó bâng quơ.
Trong trường hợp hôn nhân, chúng ta nói đến ý nghĩa phối ngẫu của thân xác: khả năng mà Thiên Chúa đã ghi vào thân xác người nam và người nữ để bày tỏ với nhau tình yêu vợ chồng của họ luôn luôn mở ra cho cuộc sống. Thân xác của người nữ là để thể hiện nữ tính thực sự của người nữ đối với người nam, và Thân xác của người nam là nam tính thực sự của người nam đối với người nữ.
Tuy nhiên, tội nguyên tổ đã làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của thân xác con người do Thiên Chúa thiết kế. Dục vọng đã làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của thân xác bằng cách làm sai lệch cái nhìn và ước muốn của con người. Định hướng sai lầm này bao gồm việc thay đổi chủ ý của con người đối với người khác từ việc nhìn họ như một con người sang nhìn họ và mong muốn họ như một đồ vật.
Trong trường hợp một người nam nhìn một người nữ với sự thèm khát không thể kiềm chế được, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi hoàn toàn về chủ ý. Người nam nhìn người nữ theo cách này không chỉ muốn chiếm đoạt người nữ ấy làm đối tượng cho những ham muốn dục vọng của mình mà thậm chí có thể rơi vào cực điểm khi nghĩ rằng tất cả phụ nữ đều muốn được đàn ông nhìn và mong muốn cách này. Sự thay đổi chủ ý của người nam (từ sự trong sạch vô tội nguyên thủy sang sự ô uế của tội nguyên tổ) đến nỗi người nam đã hoàn toàn tái định nghĩa đời sống con người cho phù hợp với ước muốn xấu xa của mình.
5. Tại sao Chúa Giêsu nói về một người nam nhìn một người nữ một cách thèm muốn, chứ không ngược lại?
Chúa Giêsu biết rằng cái nhìn dâm đãng hay ô uế cũng có thể là cái nhìn từ một người nữ sang người nam. Nhưng Người đã nhấn mạnh tình trạng của một người nam nhìn một người nữ, bởi vì sự biến dạng gây ra bởi dục vọng hoạt động theo một cách khác nhau ở người nam và người nữ. Những mô tả về hậu quả của tội nguyên tổ trong mối quan hệ nam nữ trong các đoạn Thánh Kinh mà chúng tôi vừa trích dẫn ở trên cho thấy sự khác biệt này.
Trong cả hai trường hợp, người nam đối xử với người nữ như một đối tượng của ham muốn ích kỷ và người nữ cũng đối xử với người nam như một đối tượng của ham muốn ích kỷ. Nhưng khuynh hướng chủ yếu ở người nam là nhìn và thàm muốn người nữ như một đối tượng để thỏa mãn cho mình, trong khi khuynh hướng chủ yếu của người nữ là trở thành đối tượng để người nam nhìn và mong muốn. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đang đối diện với một tiến trình khủng khiếp của việc đồ vật hóa và phi cá thể hóa con người.
6. Tại sao Chúa Giêsu nói về một người nam nhìn một người nữ một cách thèm muốn chứ không phải vợ anh ta?
Chúa Giêsu rất kiên định trong giáo huấn của Người. Nếu ham muốn tình dục bị định hướng sai bởi dục vọng, thì sự biến dạng này cũng có thể xảy ra trong hôn nhân. Nếu chúng ta cho phép quan hệ tình dục trong hôn nhân là “lối thoát” để thỏa mãn dục vọng, thì làm sao chúng ta có thể nói về sự trong sạch của hành vi vợ chồng? Hoặc làm sao chúng ta có thể nói về sự cứu chuộc thân xác mà Đức Kitô cũng muốn thực hiện trong chúng ta? Làm sao chúng ta có thể trở thành con người mới về cả thân xác lẫn linh hồn mà Chúa Giêsu muốn chúng ta trở thành?
Chúng ta không thể bỏ dở tiến trình thánh hóa của mình bằng cách đầu hang dục vọng tức là khuynh hướng dễ phạm tội do tội nguyên tổ gây ra. (Để biết đầy đủ hơn về dục vọng trong sự biểu hiện gấp ba lần của nó, xin xem 1 Gioan 2: 16-17.)
Ethos mà Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta là cho cả thân xác lẫn linh hồn. Nhưng ethos như vậy phải bắt đầu từ tâm hồn. Sự trong sạch của tâm hồn mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có được mô tả ngược lại với lời mô tả của Chúa Giêsu về sự ô uế: “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế; còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế.” (Matthêu 15: 19-20).
Lưu ý rằng sự ô uế không chỉ giới hạn ở tình dục, mà thực sự đề cập đến những biến dạng gây ra bởi dục vọng trong mọi lĩnh vực của đời sống luân lý của chúng ta. Tương tự như vậy, long trong sạch đề cập đến tất cả các lĩnh vực của đời sống luân lý của chúng ta. Sự trong sạch của tâm hồn là sự trong sạch của ý định, và sự trong sạch của ý định theo cơ bản là nhìn và đối xử với người khác như những con người, như cùng đích ở chính họ, như những món quà của Thiên Chúa. Sự trong sạch của tâm hồn không gì khác hơn tình yêu tinh khiết bắt nguồn từ tâm hồn, yêu người khác vì chính họ chứ không phải vì những ham muốn ích kỷ của mình. Trái ngược với sự trong sạch không những chỉ là sự ô uế mà còn là đạo đức giả. Tật xấu thứ hai, theo cơ bản, hệ tại việc không yêu người khác vì lợi ích của chính họ, mà vì những động cơ ích kỷ của chúng ta. Chúa Giêsu ghét việc đạo đức giả, đặc biệt là khi nó bóp méo các bổn phận tôn giáo của chúng ta (xem Matthêu 23).
Cũng nên lưu ý cách Chúa Giêsu bác bỏ truyền thống cũ thu gọn sự trong sạch vào ý nghĩa pháp lý của nó, vốn bao gồm việc rửa tay bằng nước. Thật vậy, sự trong sạch liên quan đến việc tẩy rửa. Nhưng cũng nên lưu ý cách Chúa Giêsu bác bỏ việc thu nhỏ đức trong sạch theo lề luật bằng cách giới hạn đức trong sạch trong phạm vi rửa tay. Thực ra, đức trong sạch liên quan đến việc tẩy rửa, nhưng là tâm hồn, chứ không phải phần bên ngoài của con người. Một tâm hồn trong sạch là một tâm hồn sạch sẽ, không còn dục vọng và mọi điều xấu xa. Tâm hồn trong sạch sẽ có thể xem người khác như quà tặng của Thiên Chúa, như hình ảnh của Thiên Chúa. Hơn nữa, tâm hồn trong sạch sẽ có thể nhìn thấy chính Thiên Chúa trên Thiên đàng. “Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Matthêu 5: 8).
7. Quan niệm của Thánh Phaolô về sự trong sạch là gì và nó bổ sung cho quan niệm của Chúa Giêsu như thế nào?
Thánh Phaolô không nói đến sự trong sạch trong các thư của ngài, nhưng ngài lên án sự ô uế và nói đến sự tự chủ, đặc biệt là trong mối quan hệ với thân xác. “Vì đây là ý muốn của Thiên Chúa, là sự nên thánh của anh em: đó là anh em tránh mọi điều vô luân [sự ô uế]; để mỗi người trong anh em biết điều khiển thân xác mình trong sự thánh thiện và danh dự ” (1 Th 4: 3-4). Từ giáo huấn này, chúng ta có thể suy luận rằng đối với Thánh Phaolô, sự trong sạch là một nhân đức vì nó là khả năng kiểm soát những đam mê của thân xác của chính mình.
Thánh Phaolô cũng kết nối khái niệm về sự trong sạch với thân xác con người trong việc ngài sử dụng thân thể như một loại suy cho Hội Thánh, Thân thể Đức Kitô. Quan niệm này xuất hiện trong 1 Cor 12: 18-25 và trong 1 Cor 6:19, nơi ngài nói rằng thân xác là “đền thờ của Chúa Thánh Thần”. Ở đây, Thánh Phaolô dạy rằng thân xác con người của Kitô hữu có một giá trị sâu xa. Theo nghĩa này, đức trong sạch cũng có một vai trò tích cực: duy trì thân xác trong sạch bằng cách loại bỏ sự ô uế và do đó tôn trọng giá trị sâu xa của nó.
Theo dòng suy nghĩ này, ơn kính mến của Chúa Thánh Thần (xem Isaia 11: 1-2) là một kiểu mở rộng của ơn kính sợ Chúa. Ơn sau này có nghĩa là chúng ta phải tôn kính Thiên Chúa và những điều của Thiên Chúa, và ơn kính mến mở rộng sự tôn trọng này cho các thụ tạo khác, đặc biệt là thân xác con người và đặc biệt hơn là ngay cả trong bối cảnh hôn nhân Kitô giáo. Bằng cách này, đức trong sạch được giúp đỡ bởi ơn kính mến trong việc giữ cho tâm hồn và thân xác được trong sạch.
8. Vai trò xã hội của nhân đức khiết tịnh là gì?
Đức trong sạch của tâm hồn có thể trở thành đức khiết tịnh, đó là cách sử dụng tính dục của con người một cách đúng đắn. Việc sử dụng tình dục con người một cách đúng đắn về cơ bản bao gồm sự tôn trọng mối liên hệ không thể tách rời giữa hai ý nghĩa vốn có của nó: ý nghĩa duy nhất và ý nghĩa sinh sản trong hôn nhân. Xin xem Thông điệp có tính tiên tri Humanae Vitae của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, số 12.
Đức trong sạch và ơn kính mến giúp nhân đức khiết tịnh hoàn thành mục tiêu cả trong và ngoài hôn nhân. Trong hôn nhân, đức khiết tịnh được sống trong cách yêu thương mở ra cho cuộc sống mà các cặp vợ chồng kết hợp với nhau. Nó cũng cung cấp sức mạnh để họ thực hành thói quen kinh cữ định kỳ khi họ có lý do nghiêm trọng để hoãn việc mang thai. Ngoài hôn nhân, đức khiết tịnh được thực hành bằng cách kiềm chế, hoàn toàn kiêng cữ quan hệ tình dục.
Tóm lại, đức khiết tịnh có một vai trò xã hội quan trọng. Trong Humanae Vitae, số 22, Đức Phaolô VI kêu gọi “tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho việc tăng trưởng của đức khiết tịnh để quyền tự do thực sự có thể chiếm ưu thế hơn so với phép tắc và các quy tắc của luật luân lý có thể được bảo vệ đầy đủ.” Lời kêu gọi này không chỉ hướng đến các gia đình, mà còn hướng tới các nhà giáo, chính trị gia, thành viên của giới truyền thông, những người liên quan đến nghệ thuật, v.v.
Kết luận
“Bạn đã đề cập đến sự trong sạch của tâm hồn, nhưng không phải chủ đề này cũng bao gồm sự trong sạch của Thân xác sao?”
Điều đó hoàn toàn đúng. Đó là lý do tại sao bài viết tiếp theo của chúng ta sẽ đề cập đến sự sống lại của thân xác, là chủ đề trọng tâm của chu kỳ tiếp theo của bài giáo lý của Thánh Gioan Phaolô II.
Đức Thánh Cha đề cập đến sự sống lại của Thân xác trong chu kỳ 3 bởi vì cũng giống như Chúa Giêsu ban một đặc tính mới cho tâm hồn, thì Ngài cũng ban cho chúng ta một đặc tính mới cho thân xác. Việc cứu chuộc tâm hồn và linh hồn cần phải được hoàn thành bằng việc cứu chuộc thân xác. Nhưng việc cứu chuộc thân xác của chúng ta vẫn chưa được hoàn thành. Nó sẽ chỉ đạt đến sự hoàn thành của nó trên Thiên đàng, với sự sống lại của thân xác chúng ta.
Giống như Sáng thế 1-2 đã soi sáng cho chúng ta về sự vô tội nguyên thủy của thân xác, sự sống lại của thân xác như được mặc khải trong Lời Chúa sẽ soi sáng cho chúng ta về tình trạng cuối cùng của thân xác chúng ta trong Sự Sống Đời Đời. Những giáo huấn của Thiên Chúa về sự sống lại của thân xác, như được giải thích bởi Thánh Gioan Phaolô II, sẽ làm sáng tỏ cuộc sống hiện tại của chúng ta khi chúng ta tìm cách cứu chuộc thân xác mình dưới quyền năng của ân sủng Thiên Chúa.
Cuối cùng, vì con người là sự kết hợp của thân xác và linh hồn, nên điều phù hợp là sau khi bàn đến sự cứu chuộc của tâm hồn (là trung tâm của linh hồn), chúng ta bàn đến sự cứu chuộc của thân xác, trạng thái cuối cùng của nó sẽ là thân xác con người sẽ sống lại trên Thiên đàng. Thân xác con người được phục sinh sẽ đạt được trạng thái vinh hiển tương tự như của chính Chúa Giêsu (xin xem Ph 3:21). Sau đó và chỉ khi đó, cuối cùng chúng ta sẽ trở thành con người mà Đức Kitô muốn chúng ta trở thành.