Old Testament Introduction – Dẫn Nhập và Cựu Ước

Trích từ “Lời Chúa cho Mọi Người

Mười tám thế kỷ trước Công Nguyên, một số bộ lạc du mục cùng với đoàn súc vật của họ rời xứ Can-đê đến sinh sống tại Ai-cập. Trong các bộ lạc và thị tộc du mục ấy, có một số gia đình mà người đứng đầu là ông Áp-ra-ham, một nhân vật mà các nhà sử học có thể không cho là quan trọng. Trong cuộc di dân bắt buộc này, ông Áp-ra-ham ấp ủ một niềm hy vọng lớn lao : trước khi ông lên đường, Thiên Chúa đã gọi ông và hứa sẽ cho ông một phần thưởng khác thường : “Áp-ra-ham ! Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được Ta chúc phúc.”

From “Christian Community Bible

Eighteen centuries before Jesus Christ many nomadic tribes leave Chaldea along with their flocks to go and to live in Egypt. Among these tribes and nomadic clans there are a certain number of families whose chief is Abraham. For Abraham – quite insignificant for the historians -, this forced migration was accompanied by a great hope: God had called him and had promised him an extraordinary recompense: “Abraham, all generations will be blest in you.”

Khi Thiên Chúa tỏ mình ra cho các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, các ông hãy còn là dân du mục, cùng chia sẻ với tất cả các đoàn du mục khác một lòng đạo đơn sơ chất phác, là gắn bó với “Thần của cha ông” và tôn kính một số tượng thần nhỏ trong gia tộc. Nhưng cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa Hằng Sống sẽ cho các ông ý thức một điều mới lạ : Thiên Chúa gìn giữ những ai Người tuyển chọn. Nhiều thử thách sẽ xảy đến, tưởng chừng như Thiên Chúa làm ngược lại lời Người đã hứa với các ông, nhưng mỗi lần, Người đều can thiệp để giúp các ông. Vậy là giữa Thiên Chúa và các tổ phụ, một mối giao hảo sẽ được xe kết, mang dấu ấn lòng trung tín của một Thiên Chúa luôn giữ lời hứa, cũng như lòng tin tưởng không hề lay chuyển của những kẻ trung tín với Người. Qua trung gian các ông, Ít-ra-en sẽ được chiêm ngắm, trong suốt cuộc hành trình của mình, vừa là những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện cho những kẻ Người chọn, vừa là niềm tin bất diệt của cha ông mình.

When God revealed himself to the patriarchs Abraham, Isaac and Jacob, they were still nomads; they shared a simple religion with other nomads, an attachment to the “God of their forebears” and the veneration of a number of family idols. Their meeting with the Living God led them to a new awareness: God watches over those whom he chooses. Many trials seemed to contradict God’s promise to them; but each time God intervenes in favor of his faithful people. This led to the establishment of a privileged relationship between God and the patriarchs, marked by God’s fidelity to his word and by the unshakeable confidence of his faithful people. Through them, Israel was incited to contemplate both the marvels of God for those he has chosen and the unfailing faith of their ancestors.

Sáu thế kỷ sau, một số người thuộc dòng dõi các tổ phụ gặp lại nhau trong sa mạc, theo vết chân ông Mô-sê đi về Đất Hứa. Chặng nghỉ tại núi Khô-rếp có tính quyết định : chính nơi đây, các thị tộc du mục này sẽ trải qua một kinh nghiệm thiêng liêng hệ trọng đến nỗi các bản văn Kinh Thánh luôn quy chiếu về đó. Thiên Chúa long trọng nói lời cam kết với dân Người, đồng thời ban cho họ một Lề Luật : đây là luật giao ước với Thiên Chúa, là bộ luật ứng xử cá nhân và tập thể của Ít-ra-en. Kể từ đây, lời Thiên Chúa nói với ông Áp-ra-ham đã có âm hưởng : đó là lời phán ra tại núi Xi-nai (một tên khác của núi Khô-rếp). Lời hứa, giao ước và cứu độ sẽ là ba cột trụ cho niềm tin của Ít-ra-en dựa vào, là cương lĩnh của năm cuốn sách đầu tiên trong bộ Cựu Ước.

Six centuries later, descendants of the patriarchs were in the desert being guided by Moses towards the Promised Land. The sojourn at Horeb was decisive: it was here that the nomadic clans were to live a spiritual experience, such that the biblical text would never cease referring to it. God solemnly committed himself to his people at the same time that he gave them a Law: the rule of a covenant with God and a code of personal and communal behavior for Israel. The word spoken to Abraham was echoed by the message of Sinai. The Promise, the Alliance and Salvation will be the three pillars of Israel’s faith, and the strong point of the first five books of the Old Testament.

Khi bước vào Đất Hứa, Ít-ra-en phải đối đầu với những dân tộc khác tiến bộ hơn về mặt văn hoá. Từ hơn hai ngàn năm về trước, những dân tộc này đã gầy dựng một nền văn hoá đô thị, phát triển nông nghiệp, thiết lập những tương quan mậu dịch trên khắp vùng Cận Đông, thậm chí còn xa hơn nữa. Nền văn minh lừng lẫy nhưng ngoại đạo này sẽ là một cạm bẫy thường xuyên đe doạ niềm tin của Ít-ra-en. Vì vậy, Thiên Chúa gửi đến cho dân những phát ngôn viên của Người là các ngôn sứ. Vua Đa-vít chiếm đóng một thành phố nhỏ xứ Ca-na-an và lập làm kinh đô : đó là Giê-ru-sa-lem. Ông cho rước vào đó Hòm Bia Giao Ước là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người. Kể từ ngày ấy, thành thánh Giê-ru-sa-lem đi vào lịch sử dân Thiên Chúa, nhưng thiên chức của nó vượt thời gian và lịch sử bởi nó sẽ lại xuất hiện trong các trang cuối của sách Khải huyền như là hình ảnh của nhân loại đã vĩnh viễn làm hoà với Thiên Chúa của mình. Khi xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem, trở thành đền thờ hợp pháp duy nhất hai thế kỷ sau đó, vua Sa-lô-môn đã tặng cho dân mình một điểm hội tụ : “Đền Thờ Đức Chúa”.

With the entry to the Promised Land, Israel was confronted by other people much more culturally advanced. For more than two thousand years these people had an urban civilization, developed agriculture, established commercial relations within the region of the Near East, and beyond. This civilization, brilliant but pagan, would be a constant stumbling block for the faith of Israel. God sent prophets to his people; they were his representatives. David took hold of a small Canaan town and made it his capital: Jerusalem. To it he brought the Ark of the Covenant, the visible sign of the presence of God in the midst of his people. From this date, not only did the Holy City enter into the history of God’s people but its vocation surpassed time and history as it appears in the last pages of Revelation as a figure of humanity definitively reconciled with God. Solomon, in building the Temple of Jerusalem, which in time would be recognized as the only legitimate sanctuary, gave his people a rallying center: “God’s dwelling place.”

Lên án Ít-ra-en về vô số tội bất trung, nhắc nhở lòng thương xót không mỏi mệt của Thiên Chúa đối với Giê-ru-sa-lem, đòi hỏi sự thật và lòng thành trong việc phụng tự tại đền thờ, loan báo ơn cứu độ đang đến gần : đó là trọng tâm của thông điệp các ngôn sứ. Khi thời sau hết đã gần kề, Ít-ra-en trầm tư mặc tưởng ráo riết hơn. Bao nhiêu thử thách đã mài nhãn đi hết những tư tưởng sai lầm, quá trần tục. Thông qua lời cầu các thánh vịnh, trong các truyện nêu gương sáng hoặc châm ngôn, nhờ những suy tư về con người và xã hội, các nhà hiền triết ra công dẫn dắt Ít-ra-en trên những chặng đường cuối dẫn tới gặp Đấng đến hoàn tất mọi sự.

Condemnation for Israel’s numberless infidelities, remembrance of God’s tireless mercy towards Jerusalem, the demand for truth and sincerity in the cult of the Temple, proclamation of a coming salvation: all these are at the heart of the prophets’ message. With the approach of the end of time the meditation of Israel became more intense. Many trials refined hopes which were too human. With the prayer of the psalms, with edifying narratives or maxims, with the development of humankind and society, sages undertook to guide Israel in the last stages of its journey towards the One who would fulfill all things.

Các Trước Tác Khôn Ngoan, làm nên phần thứ ba và cuối cùng của bộ Cựu Ước, có thể bị xem là rời rạc hơn Sách Luật hoặc các Ngôn Sứ. Đây quả thật là phản ảnh của tình hình rối ren và chia rẽ trong dân Ít-ra-en, cũng là thời kỳ Thiên Chúa chuẩn bị cho mình một “số sót” nhỏ còn lại trong một quốc gia bị thúc bách tư bề và buông mình chạy theo danh vọng quyền thế, không còn biết phân biệt đâu là vương quốc trần gian, đâu là Vương Quốc Thiên Chúa nữa.

The Wisdom Scripture which constitutes the last and third part of the Old Testament may appear less coherent than the Law or the Prophets; they are in fact the reflection of a people distraught and often divided. This was the time when God formed “a small remnant” for himself in the midst of a nation attracted and carried away by temptations to power, and the confusion between the kingdom of this world and the Kingdom of God.

Thế mà sau ngần ấy kinh nghiệm dồn dập, dân Ít-ra-en lại trải qua thêm một cơn khủng hoảng : Thiên Chúa muốn tạo cơ hội cho họ vượt qua những thách đố lớn lao nhất trong lịch sử về mặt đức tin. Và ấy là lúc Đức Giê-su xuất hiện.

But after so many accumulated experiences by the people of Israel, a period of crisis takes place: where God lead them to overcome the greatest challenges of faith and of history. It is then that Jesus comes.

Vậy Cựu Ước gồm có bốn mươi sáu cuốn sách, là phần đầu và dài hơn trong hai phần của Kinh Thánh. Nội dung là cuộc chuẩn bị trường kỳ mà Ít-ra-en trải qua để đi tới giao ước chung kết và vĩnh viễn mà Thiên Chúa sắp ký kết với loài người nơi bản thân Đức Giê-su Ki-tô.

The 46 books of Old Testament make up the first and most voluminous of the two parts of the Bible. It concerns the gradual preparation of Israel for the definitive and eternal Covenant that God would seal with humankind in the person of Jesus Christ.

Cũng như các tác phẩm trong một thư viện có thể được xếp loại theo nhiều cách tuỳ người quản thư, thì cũng vậy, bốn mươi sáu cuốn sách của bộ Cựu Ước đã được xếp loại theo những cách khác nhau, từ những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Ki-tô giáo. Hai cách xếp loại xưa nay thường dùng nhất là theo thứ tự của Kinh Thánh Híp-ri hoặc của Kinh Thánh Hy-lạp.

Just as items in a library might be classified differently by one or another librarian, so the 46 books of the Old Testament were classified in different ways from the first centuries of the Christian era. Modern editors of the Bible have had to choose between the two most frequent classifications adopted by the ancient manuscripts: the order of the Hebrew bible or the order of the Greek bible.

Chúng tôi chọn theo thứ tự của Kinh Thánh Hy-lạp cho lần xuất bản này. Vậy chúng ta sẽ bắt đầu với năm cuốn sách Cựu Ước gọi là SÁCH LUẬT, sách “Tô-ra” của người Do-thái nói tiếng Híp-ri, hoặc NGŨ THƯ của người Do-thái nói tiếng Hy-lạp. Trong đó, chúng ta gặp thấy Thiên Chúa ra tay hành động trong lịch sử loài người để giải phóng một dân mà Người muốn chọn làm dân riêng của Người. Chúng ta gặp thấy Thiên Chúa dạy dỗ dân Người và làm cho lịch sử của nó có ý nghĩa.

In classifying among “the prophets” the books recording that span of history, the Hebrew Bible highlights the originality of these texts. For the Old Testament as well as for the New, every event carried the word of God: history is not told for the pleasure of knowing the past, but rather to witness God’s fidelity towards his people, to know his will, and so prepare us to welcome the grace of salvation. In this way every biblical text is “prophetic.”

Các SÁCH NGÔN SỨ cho thấy Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử qua trung gian các ngôn sứ là những nhân vật đã được Người trao ban Lời và Thần Khí của Người, “để huỷ và để xây, để nhổ và để trồng”. Những vị ngôn sứ được linh hứng ấy sẽ đóng một vai trò quyết định trong công cuộc giáo dục đức tin của Ít-ra-en.

Then come the PROPHETIC BOOKS: God intervenes in history by the intercession of the prophets to whom he communicates his Word and his Spirit “to destroy and to build, to uproot and to plant.” These inspired prophets are going to play a decisive role in the education of Israel’s faith.

Cuối cùng, các SÁCH GIÁO HUẤN là cả một bộ sách gồm những tác phẩm thuộc nhiều thể loại, giúp chúng ta hiệp thông vào lời cầu nguyện, trí khôn ngoan và kỷ cương luân thường của dân Ít-ra-en thuộc giao ước cũ. Các tác phẩm ấy dạy chúng ta cung cách phụng sự Thiên Chúa trong đời thường và trở nên những con người có trách nhiệm trong đức tin.

Finally we have the WISDOM BOOKS, that is to say a group of many writings under the most varied forms which make us enter into communion with the prayer, the wisdom and morality of the old covenant people. They teach the art of serving God in everyday life and of becoming responsible persons in our life of faith.

This part has no English equivalent.

Các sách Đệ Nhị Quy Điển

Các sách Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ba-rúc, Khôn ngoan, Huấn ca không có trong Kinh Thánh Híp-ri, cũng không có trong Kinh Thánh của anh em Tin Lành. Cả các sách Ma-ca-bê cũng thế. Điều này gợi lên những câu hỏi quan trọng : nếu có bất đồng ý kiến về một số sách, thì đâu là tiêu chuẩn để chấp nhận các sách còn lại ? Cần nhìn nhận rằng không có gì là chắc chắn cho từng sách, mà chỉ có những ý kiến chung mà thôi.

Ở đây ta nên nhắc lại rằng không phải đã có Sách Thánh ngay từ đầu. Trong nhiều the kỷ, Lời Chúa được các tư tế và các ngôn sứ truyền khẩu. Ngay cả khái niệm về bộ Kinh Thánh là một tổng hợp của những Sách Thánh, cũng chỉ xuất hiện dần dần, sau khi người Do-thái từ chốn lưu đày Ba-by-lon trở về, đặc biệt với Ét-ra. Kinh Thánh bắt nguồn từ các ngôn sứ và từ cộng đoàn đức tin, trước tiên là người Do-thái, rồi đến Ki-tô hữu. Vào thời Đức Giê-su, mọi người đều xem những sách luật Mô-sê là Sách Thánh. Những người thuộc phái Xa-đốc xếp các sách Ngôn Sứ vào loại thấp hơn, mặc dù các nhóm khác, kể cả Pha-ri-sêu, cho rằng những sách này được linh hứng. Tuy nhiên, qua thời gian, một số sách khác được tập hợp dưới tên là các sách Giáo huấn, hay là các sách Khôn ngoan, được thêm vào với sách đầu tiên mà không có một quy tắc đặc biệt, và cũng không biết rõ thẩm quyền nào chuẩn nhận.

Một số sách này không được viết bằng tiếng Híp-ri mà bằng tiếng Hy-lạp, vì hầu hết người Do-thái đương thời sống ở những nước nói tiếng Hy-lạp. Vì vậy những sách này được thêm vào bản dịch Kinh Thánh Hy-lạp trước khi xuất hiện ở Pa-lét-tin, nơi mà nhiều người hiểu tiếng Hy-lạp. Kết quả là trong bộ Kinh Thánh Hy-lạp dùng ở hải ngoại, và thường dùng trong các hội đường ở Pa-lét-tin, có thêm nhiều sách nữa.

Mãi đến khi người Rô-ma xoá sổ đất nước Pa-lét-tin, thì người Pha-ri-sêu mới triệu tập công đồng ở Giam-ni-a để tổ chức lại cộng đoàn Do-thái (vào năm 95). Tại công đồng này họ lập danh sách những cuốn Sách Thánh được linh hứng và loại trừ một cách có hệ thống những cuốn đã được viết bằng tiếng Hy-lạp : họ cho rằng Thiên Chúa chỉ nói bằng ngôn ngữ của dân Do-thái.

Hội Thánh Ki-tô giáo tiên khởi trong thực tế đã sử dụng những sách này rồi. Các Tông Đồ dùng Kinh Thánh Hy-lạp mà không phân biệt các sách khác nhau, và những tranh luận của họ thì xoay quanh những sách mới được các Ki-tô hữu viết ra để xem sách nào nên đưa vào bộ Tân Ước. Năm 384, một sắc lệnh của Đức Thánh Cha Đa-ma-xô xác định Kinh Thánh chính thức của Ki-tô giáo mà nhìn chung đã được công nhận trước rồi. Người ta giữ lại một số cuốn sách trong Kinh Thánh Hy-lạp, những cuốn mà người Do-thái đã loại bỏ tại Giam-ni-a. Những cuốn này được gọi là sách Đệ Nhị Quy Điển, nghĩa là, những sách của bộ sưu tập thứ hai.

Mười hai thế kỷ sau, khi anh em Tin Lành ly khai khỏi Hội Thánh, họ không tranh luận gì về “quy điển”, tức là về sự lựa chọn các sách Tân Ước. Dầu vậy, họ không đồng ý về những sách Đệ Nhị Quy Điển. Cuối cùng, họ nghĩ rằng loại trừ các sách này thì bảo đảm hơn, và gọi các sách này là “ngoại thư”, nghĩa là không xác thực.

Nếu chúng ta chấp nhận rằng Thiên Chúa dạy dỗ dân riêng của Người cách tiệm tiến trong suốt thời Cựu Ước, thì chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng của những sách này là những cuốn được viết ra vào ba thế kỷ trước Chúa Ki-tô. Những sách này là mối liên kết giữa các sách bằng tiếng Híp-ri với các sách Tân Ước viết bằng tiếng Hy-lạp. Những sách này làm chứng cho bước khởi đầu của niềm tin vào sự phục sinh từ cõi chết và những hiểu biết đầu tiên chuẩn bị cho mặc khải của Lời Chúa và Thần Khí. Những tranh luận về các sách Đệ Nhị Quy Điển nhắc chúng ta rằng nếu không có Hội Thánh để bảo đảm xác định đâu là những sách được linh hứng, thì không ai có thể nói cuốn nào là Lời Chúa và cuốn sách nào không phải. Để có một bộ Kinh Thánh Ki-tô giáo, trước hết, cần phải có một Hội Thánh tông truyền.