Ba Chương Đầu Sách Sáng Thế

Dẫn nhập vào sách Sáng Thế

Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về công trình tạo dựng, ba chương đầu của sách Sáng Thế có một chỗ đứng độc đáo. Về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về công trình tạo dựng, về nguồn gốc và cùng đích của công trình đó trong Thiên Chúa, về trật tự và sự tốt lành của nó, về ơn gọi của con người, và cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Kitô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc dạy giáo lý về những mầu nhiệm của “lúc khởi đầu”: việc tạo dựng, sự sa ngã, lời hứa ban ơn cứu độ (GLHTCG 289).

Để hiều ba chương đầu của sách Sáng Thế Ký, chúng ta phải hiểu rằng, mục đích chính của bản năn không phải là kể lại lịch sử của việc tạo dựng như chúng ta hiều như lịch sử hiện đại, nhưng là “để long trọng diễn tả những chân lý về công trình tạo dựng, về nguồn gốc và cùng đích của công trình đó trong Thiên Chúa, về trật tự và sự tốt lành của nó, về ơn gọi của con người, và cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ.

Trong bài này chúng tôi cố gắng trình bày câu chuyện tạo dựng dưới ánh sáng của Chúa Kitô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh.”

Để mở đầu chúng ta cùng nhau xem một video tóm lược 11 chương đầu của Sách Sánh Thế.

 

Việc Tạo Dựng là công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi

Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo viết:

Hành động tạo dựng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là một, một cách không thể tách biệt, với hành động tạo dựng của Chúa Cha, là điều đã được thoáng thấy trong Cựu Ước115, đã được mạc khải trong Tân Ước, nay được quy luật đức tin của Hội Thánh xác định rõ ràng: “Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất […]: Ngài là Cha, là Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hoá, là Tác Giả, là Đấng làm nên mọi sự, Đấng tự mình tác tạo mọi sự, nghĩa là nhờ Lời và đức Khôn Ngoan của Ngài”116; “Chúa Con và Chúa Thánh Thần” là như “những bàn tay” của Ngài117. Tạo dựng là công trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh (câu 292).

Chương thứ nhất của sách Sáng Thế mô tả Thiên Chúa như tác giả duy nhất của việc tạo dựng va đã ám chỉ về Chúa Ba Ngôi trong tất cả chương này.

1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất (Bereshith bara Elohim eth hashshamayim veeth haarets).

2 Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

Hai câu đầu của sách cho thấy rằng Thiên Chúa tạo dựng tất cả từ nhưng không. Điều đáng chú ý ở đây là từ Elohim (Thiên Chúa) được viết ở số nhiều trong tiếng Hípri, và động từ bara (tạo dựng) lại ở số ít. Điều này ngầm chỉ Một Thiên Chúa Duy Nhất có Ba Ngôi, và chúng ta sẽ thấy Ba Ngôi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ ra sao trong những câu sau đó-.

  1. Thiên Chúa tạo dựng từ nhưng không – Từ bara diễn tả một sự khởi đầu từ nhưng không. Tử eth ở đây có vẻ như một liên từ, nhưng theo Thánh Ephraim Syrus thì chữ này có nghĩa là hữu thể (esse) của trời và của đất.
  2. Lúc đầu “Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm” nghĩa là mọi sự chưa có trật tự. Sự vô trật tự này được tương trưng bằng bóng tối. Với người Cận Đông, biển hay nước cũng tượng trưng cho sự vô trật tự hay quyền lực của tối tăm. Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước tức là Thần Khí đã chinh phục sự tăm tối.

Những câu sau cho thấy Thiên Chúa tạo dựng bằng Lời Ngài.  Việc tạo dựng có một trật tự – 3 ngày chia ra và 3 ngày làm đầy.  Điều này được diễn tả như Thiên Chúa chuẩn bị mọi sự cho con người là tột đỉnh của sự tạo dựng vào ngày thứ sáu, giống như người cha xây nhà cho con mình và trao cho nó làm chủ.

1.     Ngày và Đêm (thời gian) 4.   Mặt trời, mặt trăng
2.      Biển và Trời (không gian) 5.   Cá và Chim
3.      Đất và  and cỏ cây (sự sống) 6.   Con người và thú vật
7. Thiên Chúa Nghỉ Ngơi

Khi dựng nên con người, Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1:26).

Và Ngài truyền cho họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” (St 1:28).

Khác với câu chuyện tạo dựng của dân Cận Đông Cổ Đại cùng thời với ông Môsê. Họ tin rằng con người được các thần minh tạo ra để làm nô lệ và phục dịch các thần. Dân Do Thái tin rằng Thiên Chúa tạo dựng nên con người để chia sẻ hạnh phúc với Ngài.

Điển hình là chuyện Enuma Elish của dân Babylon. Enuma Elish là một văn bản tôn giáo Babylon khoảng từ năm 1800 hoặc 1100 trước Công nguyên. Việc khám phá ra văn bản này vào cuối thế kỷ 19 đã ảnh hưởng lớn đến cách tiếp cận lịch sử với các văn bản cổ, đặc biệt là Kinh thánh, bởi vì hai câu chuyện tạo dựng rất giống nhau. Câu chuyện đó mô tả một thế giới phát sinh từ bạo lực của các thần minh.

SO SÁNH GIỮA SÁNG THẾ 1 VÀ ENUMA ELISH

Sáng Thế

Thần Khí Thiên Chúa dựng nên mọi vật chất bằng Lời, nhưng lệ thuộc vào vật chất.

Đất thì hoang vắng và bóng tối bao trùm vực thẳm  (tehom)

Ngày 1 – Dựng nên ánh sáng

Ngày 2 – Tạo dựng vòm trời

Ngày 3 – Tạo dựng đất khô

Ngày 4 – Tạo dựng các vầng sáng trên trời

Ngày 5 – Tạo dựng chim trời, cá biển

Ngày 6 – Tạo dựng thú vật con người

Ngày 7 – Thiên Chúa nghỉ ngơi và thánh hiến ngày Sabát

Enuma Elish (ANET 66–69)

Các thần khí thiêng liêng và vũ trụ vật chất đồng hiện hữu và cùng có từ đời đời.

Lộn xộn lúc đầu; các thần chống lại Tiamat, biển cả

Ngày 1 – Ánh sáng tỏa ra từ các thần

Ngày 2 – Tạo dựng bầu trời (vòm)

Ngày 3 – Tạo dựng đất khô

Ngày 4 – Tạo dựng các vầng sáng trên trời

Ngày 5 – Không nói gì đến cả

Ngày 6 – Tạo dựng con người

Ngày 7 – Các thần nghỉ ngơi và mở tiệc ăn mừng.

 

Từ khởi thủy, các thần Apsu và Tiamat đã sinh ra các thần trẻ, nhưng chúng đã quá ồn ào đến nỗi các thần lớn tuổi hơn không ngủ được. Apsu và Tiamat quyết định bịt miệng các con của họ bằng cách giết chúng – nhưng một trong các thần trẻ là Ea, biết về kế hoạch này và giết Apsu trước.

Việc ấy làm cho Tiamat tức giận, và bà thề là sẽ trả thù cho bạn đời đã chết của mình. Kinh hãi, các thần con xin vị thần trẻ nhất trong họ, Marduk, đánh nhau với Tiamat. Ông đồng ý, nhưng chỉ sau khi các thần khác nói rằng sẽ để ông cai trị họ nếu ông thành công.

Marduk chăng lưới bắt được Tiamat và thổi một ác phong vào cổ họng bà, khiến bụng bà phồng lên như bong bóng. Sau đó ông bắn một mũi tên làm vỡ bụng bà và xuyên qua trái tim bà. Ông đập vỡ xương sọ bà và kéo dài xác bà ra.

Marduk tạo ra thế giới từ xác chết của Tiamat. Các thần đã đứng về phía Tiamat đều bị bắt bỏ tù. Marduk và Ea giết một trong những vị thần đã bị bắt và tạo dựng nên con người từ máu của vị thần ấy. Loài người, theo câu chuyện của người Babylon, được tạo ra để làm đầy tớ cho các thần minh. (Phỏng theo Wink, Engaging the Powers, trang 14-15)

Enuma Elish phản ánh niềm tin cơ bản của nền văn hoá Babylon: chỉ có bạo lực mới có thể đem lại trật tự cho hỗn loạn. Trái lại, truyện của Sáng Thế phản ánh niềm tin rằng tình yêu, chứ không phải bạo lực, mang lại sự tốt lành từ hỗn loạn.

Theo giáo sư Pete Enns thì khi vừa mới khám phá ra (Enuma Elish), “nhiều học giả nghĩ rằng tác giả của Sáng Thế 1 đã mượn tài liệu của Enuma Elish. Điều này đã dẫn đến cuộc tranh luận ” Thánh Kinh (Bible) và Babel” (“Babel” là tiếng Do Thái cho Babylon). Thực ra, các học giả thường nghĩ rằng văn hoá Babylon là nguồn gốc của tất cả các tôn giáo cổ đại, bao gồm cả Kitô giáo (“pan-Babylon-ianism”).

Nhưng với các khám phá tiếp theo từ các nền văn hoá khác (Sumerian, Ai Cập, Canaanite) và các giai đoạn khác, các học giả đã đưa ra kết luận nhiều hơn: văn hoá Babylon không có ảnh hưởng rộng lớn như vậy, và Sáng Thế 1 không trực tiếp phụ thuộc vào Enuma Elish.

Thay vào đó, những văn bản này là hai ví dụ về các chủ đề thần học bao trùm nhiều nền văn hoá trong nhiều thế kỷ. Câu chuyện không liên quan trực tiếp, nhưng chúng chia sẻ những cách nghĩ chung về những sự khởi đầu. Họ “thở cùng một không khí.”

Các học giả cũng đánh giá cao sự khác biệt giữa Sáng Thế 1 và Enuma Elish. Một sự khác biệt trung tâm là Thiên Chúa của Israel tạo ra cho riêng mình, không có ma thuật thần thánh hay cốt truyện dài.

Tầm Quan Trọng của Ngày Sabát

Đối với dân Do Thái, giữ ngày Sabát là điều quan trọng nhất.  Ngày Sabát là:

  • Ngày Thánh hiến cho Chúa – Thiên Chúa và Đấng Tạo Hóa của vũ trụ
  • Ngày của tình thân hữu
  • Ngày nghỉ ngơi và xả hơi thư dãn
  • Ngày chứng tỏ lòng tín thác vào Thiên Chúa của chúng ta.

Với Kitô hữu, ngày Sabath còn tiền trưng cho sự an nghỉ đời đời với THiên Chúa.

Trong sách Xuất Hành Thiên Chúa truyền xử tử những ai vi phạm ngày Sabát:

ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: “Phần ngươi, hãy nói với con cái Ít-ra-en: cách riêng, các ngươi sẽ giữ các ngày sa-bát của Ta, bởi vì đó là một dấu hiệu giữa Ta và con cái các ngươi qua mọi thế hệ, để người ta biết rằng chính Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng thánh hiến các ngươi. Các ngươi sẽ giữ ngày sa-bát, vì đó là ngày thánh đối với các ngươi. Kẻ nào vi phạm điều ấy, thì sẽ bị xử tử; phải, kẻ nào làm việc trong ngày ấy, sẽ bị khai trừ khỏi dân nó. Trong sáu ngày, người ta sẽ làm việc, nhưng ngày thứ bảy là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng ĐỨC CHÚA: kẻ nào làm việc trong ngày sa-bát sẽ bị xử tử. Con cái Ít-ra-en sẽ giữ ngày sa-bát, nghĩa là nghỉ ngơi trong ngày đó, qua mọi thế hệ: đó là một giao ước vĩnh viễn. Đó là một dấu hiệu vĩnh viễn giữa Ta và con cái Ít-ra-en; vì trong sáu ngày ĐỨC CHÚA đã dựng nên trời đất, nhưng ngày thứ bảy Người đã ngưng các việc và nghỉ xả hơi.“ (Xh 31:12-17).

Nhưng khi Chúa Giêsu đến, Người mới cho chúng ta hiểu mục đích chính của việc Thiên Chúa dựng nên ngày Sabath là vì chính con người chứ không phải con người được tạo dựng cho ngày Sabath (Mc 2:27). Và chính Người là chủ ngày Sabath chứ không phải Lề Luật (Mt 12:8).

Hai Tường Thuật Tạo Dựng

Sáng Thế 1 và 2 ghi lại hai tường thuật về Tạo Dựng. Đây không phải là hai tường thuật trái ngược nhau, chúng là những tường thuật bổ túc cho nhau nhưng nhấn mạnh khác nhau.

Trong Sáng Thế 1, Thiên Chúa Tạo Hoá dựng nên một ngôi nhà vũ trụ hay một đền thờ cho chính Ngài. Thụ tạo cuối cùng của Ngài – người nam người nữ – Ngài tạo nên theo hình ảnh Ngài, và mời gọi họ bắt chước Ngài (1:28)

Trong Sáng Thế 2, Thiên Chúa làm việc như người Cha, yêu thương hình thành con người từ bụi đất, thổi sự sống vào ông, tạo nên một vườn địa đàng ông và dựng nên một người vợ cho ông’ Thiên Chúa truyền cho ông “canh tác… và canh giữ” vườn (2:15) một ơn gọi vào chức tư tế dâng hy lễ trong cung thánh là vườn. Ông Ađam là hoàng tử trưởng của Thiên Chúa và tượng tế của nhân loại. Ông Ađam ở đây tượng trưng cho toàn thể nhân loại. Trong chương này Thiên Chúa thật gần gũi với nhân loại vì con người có chính hơi thở (thần khí) của TC trong mình. Thiên Chúa ban cho con người có quyền làm chủ các thụ tạo khác. Con người giống Thiên Chúa và biết liên hệ với nhau và sống như một cộng đồng tình yêu.

Sự Sa Ngã của Con Người

Vì Thiên Chúa ban cho con người ý chí tự do, Ngài không bắt bộc con người phải làm theo bản năng như các loài thụ tạo khác mà ban cho họ quyền lứ chọn. Ở đây Thiên Chúa cho họ quyền chọn lựa hoặc tuân phục Ngài hoặc bất phục tùng. Nếu con người tuân phục Thiên Chúa thì họ và con cháu họ dẽ được hưởng tất cả những điều tốt lành Ngài dự định ban cho họ trong chương trình của Ngài.  Còn nếu họ bất phục tùng thì họ sẽ mất tất cả vì ân huệ của Thiên Chúa là quà tặng chứ không phải là quyền lợi của chúng ta. Ân huệ đó là sự sống thần linh của Thiên Chúa và cái chết thiêng liêng là hậu quả của việc mất ân huệ này. Và đây là lệnh của Thiên Chúa: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” (St 2:17-18)

Tội Nguyên Tổ

Việc con người sa ngã phạm tội là điều khó hiểu. Sách Giáo Lý (số 390) cho chúng ta ba điều quan trọng để nhớ khi nghiên cứu sự cám dỗ và sa ngã của con người:

Tường thuật sa ngã trong Chương 3 sách Sáng Thế sử dụng ngôn ngữ biểu tượng, Nhưng (tường thuật ) xác nhận một biến cố thời sơ khai, một việc làm đã xảy ra ở đầu lịch sử nhân loại (Cf. GS 13&1), “Mặc khải ban cho chúng ta xác tín của đức tin rằng toàn thể lịch sử nhân loại bị đánh dấu bởi tội đầu tiên mà nguyên tổ chúng ta đã tự do phạm (Xem Công Đồng  Trentô). Mặc dù tường thuật trong Sáng Thế 3 được viết giống văn thơ hơn báo chí, nó xác nhận một biến cố có thật – “tội đầu tiên” của Ađam và Eva – đánh dấu lịch sử nhân loại muôn đời.

Như thế theo Hội Thánh thì việc nguyên tổ sa ngã là chuyện có thật, nhưng được diễn tả bằng ngôn ngữ biểu tượng. Ông Ađam và bà Evà nghe Satan, dưới hình con rắn, cám dỗ đã bất tuân lệnh Thiên Chúa và đã làm mất hồng ân sự sống cho ông bà và con cái ông bà.

“’Con người, bị Thần Dữ xúi dục, đã lạm dụng sự tự do của mình ngay từ buổi đầu của lịch sử’. Họ sa chước cám dỗ và làm điều ác.  Họ vẫn khát khao điều tốt, nhưng bản tính con người mang vết thương của tội nguyên tổ. Con người bây giờ bị nghiêng chiều về sự dữ và dễ bị sai lầm” (GLCG 1707).

‘Trong tội này, con người đã chọn mình hơn Thiên Chúa và qua đó đã khinh thường Thiên Chúa:  con người đã chọn chính bản thân chống lại Thiên Chúa,  chống lại những đòi buộc của thân phận thụ tạo của mình,  và do đó chống lại cả lợi ích riêng của mình.  Con người, được tạo dựng trong tình trạng thánh thiện,  được Thiên Chúa nhắm cho nó được “thần hóa” trọn vẹn trong vinh quang.  Do ma quỷ cám dỗ, con người đã muốn trở nên “như Thiên Chúa”  mà “không cần Thiên Chúa, vượt qua Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa” (GLHTCG 398).

Hậu quả của tội Nguyên Tổ

Thánh Kinh cho thấy những hậu quả bi đát của sự bất tuân đầu tiên đó. Ông Ađam và bà Evà đã lập tức đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy. Họ đâm ra sợ hãi Thiên Chúa, vì họ đã tạo ra một hình ảnh sai lầm về Ngài, hình ảnh của một vị Thần ham hố các đặc quyền của mình (GLHTCG 399).

Sự hài hoà mà tổ tông đang hưởng nhờ sự công chính nguyên thuỷ, đã bị phá hủy; quyền điều khiển của các khả năng tinh thần của linh hồn trên thể xác đã bị đập tan280; sự kết hợp của người nam và người nữ trở nên căng thẳng; những liên hệ giữa họ bị đánh dấu bằng ham muốn và thống trị. Sự hài hòa với công trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người.. Vì con người, muôn loài đã phải lệ thuộc vào cảnh hư nát. Cuối cùng, hậu quả đã được báo trước cách minh nhiên đối với tội bất tuân, nay thành hiện thực: con người từ tro bụi sẽ trở về bụi tro286. Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại (GLHTCG 400).

Tóm lại, khi phạm tội Tổ Tông

  • Con người mất bình an nội và sự hài hòa tâm (St. 7),
  • Con người mất sự hòa hợp trong mối liên hệ của họ với Thiên Chúa (St. 8),
  • Con người mất sự hòa hợp giữaa người nam và người nữ (St. 12-13)’
  • Ảnh hưởng cách tiêu cực đến người nam và người nữ trong vai trò của mỗi người như “chăm sóc trái đất” and “cưu mang con cái” (St. 16-19)’
  • Trái đất bị tổn thương.
  • Mỗi người chúng ta bị sinh ra với một khuynh hướng nghiêng chiều về tội lỗi, khả năng tự nhiện liên hệ với Thiên Chúa và chọn làm điều tốt bị yếu đi, và cảm xúc cùng đam mê của chúng ta bị méo mó. Cúng ta sống trong một sự chống đối một cách nào đó với những nhắc nhở của Chúa Thánh Thần (X. GLHTCG 402-409).

Đặc tính của Tội Tổ Tông:

  1. Tội Tổ tông là tội di truyền, lưu truyền một bản tính nhân loại đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ (x. GLHTCG 404).
  2. Bản tính nhân loại bị thương, nhưng không hoàn toàn bị hủy hoại (x. GLHTCG 405).
  3. Vì tội tổ tông, ma quỷ đã có được một quyền thống trị nào đó trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do.

Nếu không biết rằng bản tính nhân loại đã bị tổn thương, bị nghiêng chiều về sự dữ, người ta có thể mắc những sai lầm nghiêm trọng trong các lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý. Việc không biết hậu quả của Tội Tổ Tông đã đưa đến biết bao nhiêu tệ nạn trong xã hội hôm nay.

Toàn bộ lịch sử của nhân loại là lịch sử của cuộc chiến cam go chống lại quyền lực của sự dữ.

Đặc Tính của Cám Dỗ

Cảnh cám dỗ  trong Vườn Địa Đàng có tất cả các đặc tính của một hình ảnh phổ quát của cám dỗ.

  1. Sự hấp dẫn của giác quan. Cám dỗ đến từ giác quan vì thế người ta mới gọi “con mắt là cửa sổ linh hồn.”
  2. Con rắn không nói dối ông bà nguyên tổ, nhưng gieo nghi ngờ bằng cách sử dụng nửa sự thật để kích thích óc tưởng tượng của hai ông bà
  • Ông bà sẽ không chết
  • Mắt ông bà sẽ mở ra
  • Ông bà sẽ nên giống Thiên Chúa, biết lành và biết dữ.
  1. Nó khiêu gợi ước muốn và tính kiêu ngạo muốn bắng Thiên Chúa và độc lập với Thiên Chúa của con người.

Hậu quả là trở nên xa lạ với Thiên Chúa, chính mình, và tha nhân và tội lỗi trở nên một phần của thân phận con người mà mọi thế hệ con người tương lai đều phải chịu như chúng ta đã thấy ở trên.

Lời Hứa Cứu Độ

Thiên Chúa tỏ lòng từ bi với Ađam và Evà. Ngài che sự trần truồng của họ bằng cách làm áo bằng da thú vật, như thế đã hy sinh những thú vật đầu tiên để che phủ sự hổ ngươi của con cái Ngài.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi hai người con của Ngài. Trong câu 15 của chương 3, Ngài hứa một Đấng Cứu Độ sẽ cứu con cái Ngài, Người sẽ sửa chữa lại điều sai trái của Ađam và Eva. Các Giáo Phụ buổi đầu đã hiểu lời hứa này như “Tin Mừng Đầu Tiên” (Protoevangelium). Sách Giáo Lý viết:

Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trái lại, Thiên Chúa gọi con người và, một cách bí nhiệm, loan báo cho con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc nâng con người sa ngã dậy. Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là “Tiền Tin Mừng” bởi vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Messia Cứu Chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và Người Nữ, và về chiến thắng chung cuộc của một hậu duệ Người Nữ này (GLHTCG 410)

Truyền thống Kitô giáo nhận ra trong đoạn này lời tiên báo một vị “Ađam mới”, Đấng đã lấy sự “vâng lời cho đến chết… trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của ông Ađam. Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà đã không hề phạm một tội nào (GLHTCG 411).

Để trả lời câu hỏi: “Tại sao Thiên Chúa không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội?”, Sách Giáo Lý câu 412 dạy:

Nhưng tại sao Thiên Chúa không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội? Thánh Lêô Cả trả lời: “Điều chúng ta nhận được nhờ ân sủng khôn tả của Đức Kitô cao cả hơn điều chúng ta bị mất vì sự ghen tương của ma quỷ”( Thánh Lêô Cả, Sermo 73, 4: CCL 88A, 453 (PL 54, 151)). Và thánh Tôma Aquinô nói: “Không có gì ngăn cản bản tính loài người, sau tội lỗi, lại được nâng lên một mức cao hơn: thật vậy, Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để từ đó Ngài rút ra một điều thiện hảo hơn. Do đó, thánh Phaolô đã nói trong Rm 5,20: ‘Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội’; và do đó, trong bài Công bố Tin Mừng Phục Sinh có câu: ‘Ôi tội hồng phúc (felix culpa), nhờ có tội, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này!’ (Summa theologiae, III, q. 1, a. 3).

Tóm lại ba chương đầu của Sách Sáng Thế là một giới thiệu về lịch sử cứu độ, trong đó cho thấy con người là ai và tại sao con người cần ơn cứu độ của Thiên Chúa. Trọn bộ Thánh Cựu Ước bày tiỏ cho chúng ta thấy hậu quả của Tội Nguyên Tổ trên nhân loại ra sao và Thiên Chúa chuẩn bị cho ơn cứu độ thế nào.  Xin nhắc lại câu 289 của sách Giáo Lý để kết thúc bài này.

Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về công trình tạo dựng, ba chương đầu của sách Sáng Thế có một chỗ đứng độc đáo. Về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về công trình tạo dựng, về nguồn gốc và cùng đích của công trình đó trong Thiên Chúa, về trật tự và sự tốt lành của nó, về ơn gọi của con người, và cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Kitô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc dạy giáo lý về những mầu nhiệm của “lúc khởi đầu”: việc tạo dựng, sự sa ngã, lời hứa ban ơn cứu độ” (GLHTCG 289).