I. Vào Đề
Thời kỳ Thủ Lãnh là 200 năm giữa thời ông Giôsua và Vua Saulê (Sa-un). Thời kỳ này đánh dấu một giai đoạn chuyển tiếp và bất ốn của dân Israel từ tình trạng du mục sang tình trạng định cư.
Trong sách Giôsua, dân Israel chiếm được hầu hết các thành lớn của Palestine, đặc biệt là ở vùng cao nguyên, nhưng chưa chiếm được các vùng đồng bằng và những vùng xa các thành lớn ấy. Sau khi ông Giôsua chết thì không còn một người nào có khả năng lãnh đạo để duy trì sự thống nhất của các chi tộc. Ngoài ra các chi tộc phải trở về và cố gắng chinh phục những vùng đất được chia cho mình nên cũng không còn có thể liên kết chặt chẽ với nhau như trước nữa. Thêm vào đó còn có những tranh chấp nội bộ giữa các chi tộc. Vì không có chi tộc nào chiếm trọn lãnh thổ được chia cho, nên họ cạnh tranh nhau.
Khi dân Israel cố chiếm những phần đất được chia cho họ mà không trục xuất được dân bản xứ ra khỏi đó, họ dành chung sống với dân bản xứ. Từ đó họ bắt đầu học những tục lệ của những dân này mà quên đi Lề Luật của Thiên Chúa.
Còn dân Canaan, tuy bị đẩy lui khỏi những thàng lớn, nhưng họ vẫn còn chiếm nhiều cứ điểm quan trọng. Đồng thời với sự tản quyền của Israel, họ không còn đủ mạnh để chống lại dân bản sứ nên bị những dân này quấy phá triền miên. Không những họ ở lẫn lộn với dân Israel, mà họ còn tách biệt các chi tộc Israel khỏi nhau. Họ tách cho tộc Bengiamin khỏi các chi tộc Giuđa và Simêon. Ngoài ra các chi tộc còn bị ngăn cách nhau bởi thiên nhiên như sông Giođang. Chính vì thế mà dân Israel luôn bị những dân này quấy phá.
Ngoài dân bản xứ, còn có dân Philitinh từ vùng biển đến xâm chiếm miền núi và đồng bằng duyên hải phía nam Giaphô. Họ chiếm năm vùng: Gada, Átcơlôn, Át-đốt, Écrôn và Gát. Mỗi vùng do một vương hầu cai trị. Năm vị vương hầu này làm thành hội đồng tối cao của dân Philitinh. Dân này thiện chiến và có tổ chức chu đáo, có cả chiến xa. Thời các thủ lãnh, họ luôn đe doạ dân Ít-ra-en.
Ở Đông ngạn sông Giôđang thì có các dân Êđôm, Môáp và Ammon cũng chẳng bao giờ để cho dân Israel được yên ổn.
II. Đặc điểm
Sách Thủ Lãnh nói lên một điều rất quan trọng là chu kỳ tội lỗi và ăn năn của dân Israel, chẳng khác gì cupộc hành tình tâm linh củ mỗi ngưởi chúng ta:
- Tội lỗi
Dân Israel Thiên Chúa để theo các tà thần và phong tục của dân ngoại chung 1uanh họ..
- Trừng phạt
Thiên Chúa để họ rơi vào tay dân ngoại và bị họ áp bức trong nhiều năm.
- Hối hận
Họ hối hận và kêu cầu Thiên Chúa.
- Giải phóng
Thiên Chúa ban cho họ một vị cứu tinh đánh bại quân tù và giải phóng họ. Vị này làm thủ lãnh một thời gian và dân chúng được an bình thịnh vượng.
Nhưng một khi thảnh thơi và vị thủ lãnh này chết đi thì dần dần dân chúng lại quên Thiên Chúa và họ lại trở về đường tội lỗi. Và bắt đầu một chu kỳ mới
III. Các thủ lãnh là ai?
Thủ Lãnh được dịch từ tiếng tiếng Do Thái là שופטים טים (Sefer shoftim), mà tiếng Anh dịch là Judge. Đây không phải là quan toà, mà là những nhà lãnh đạo các chi tộc hay thị tộc. Vào thời đó, các nhà lãnh đạo này cũng chịi trách nhiệm xét xử cho dân, nên họ đóng cà vai trò lãnh đạo lẫn quan toà.
Nếu đọc qua sách Thủ Lãnh, chúng ta thấy rằng đa số không phải là những người tài đức hay xuất chúng mà là những người tầm thường, đôi khi còn tồi tệ nữa. Nhưng Thiên Chúa đã chọn họ để giải phóng dân Israel để chứng tỏ uy quyền và lòng thương xót của Ngài với dân. Đồng thời Ngài cũng biến đổi các thủ lãnh này thành những con người khác một khi họ biết tuân phục, tín thác và làm theo ý Thiên Chúa.
IV. Tóm Lược Sách Thủ Lãnh
Trích từ http://ydan.org/printthread.php?t=27426&pp=7&page=16, tác giả Trúc Võ
Nhập đề, (Tl 1,1-3,5):
- Lời dẫn thứ nhất: Tình hình ở Ca-na-an (Canaan) sau cuộc chinh phục của người Ít-ra-en: Giu-đa (Judah), Si-mê-ôn (Simeon) và Giu-se (Joseph) tiếp tục chinh phục người Ca-na-an; dân bản xứ Ca-na-an vẫn còn tồn tại trên đất Giu-đa, Mơ-na-se (Manasseh), Ép-ra-im (Ephraim), Dơ-vu-lun (Zebulun), A-Se (Asher), Náp-ta-li (Naphtali) và Đan (Dan). (Tl 1,1-36).
- Lời dẫn thứ hai: Sau khi thế hệ của Giô-suê (Joshua) chết, người Ít-ra-en lìa bỏ Chúa và thờ tà thần. Mô hình của các sự kiện xãy ra theo chu kỳ: Một thế hệ mới sinh ra lìa bỏ Chúa và phục vụ tà thần – Chúa tức giận và phó mặc họ cho kẻ thù của Ít-ra-en – người Ít-ra-en kêu khóc và Chúa chọn thủ lãnh để cứu họ. (Tl 2,1-3,5).
Sự tích các thủ lãnh, (Tl 3,1-16,31):
Có 6 thủ lãnh lớn, 6 thủ lãnh nhỏ; thủ lãnh nổi tiếng nhất là ông Sam sôn (Samson). Ngoài 12 thủ lãnh lớn nhỏ còn có ông A-vi-me-léc (Abimelech) là người phản bội dân tộc Ít-ra-en.
- Ông Ót-ni-ên (Othniel): Cu-san Rít-a-tha-gim (Cushan-Rishathaim), vua A-ram (Aram), áp bức Ít-ra-en trong tám năm. Chúa chọn Ót-ni-ên thuộc chi tộc Giu-đa, thị tộc Ca-lép (Caleb) để cứu Ít-ra-en. Ót-ni-ên tiêu diệt Cu-san Rít-a-tha-gim và lãnh thổ được bình an bốn mươi năm. (Tl 3:7-11).
- Ông Ê-hút (Ehud) giết Éc-lon (Eglon), vua Mô-áp (Moab), người áp bức Ít-ra-en mười tám năm. Thủ lãnh Ê-hút thuộc bộ lạc Ben-gia-min dùng kế giết được Éc-lon. Ít-ra-en được bình an tám mươi năm. (Tl 3:12-30).
- Ông Sam-ga (Shamgar) đã dùng gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tinh (Philistines). Ông cũng là một vị cứu tinh của Ít-ra-en. (Tl 3,31).
- Bà Ðơ-vô-ra (Deborah) và Ông Ba-rắc (Barak), (Tl 4,1-5,31):
- Bà Ðơ-vô-ra và ông Ba-rắc giải thoát Ít-ra-en khỏi sự đàn áp tàn bạo suốt hai mươi năm của vua Ca-na-an là Gia-vin (Jabin). Xi-xơ-ra (Sisera) tướng chỉ huy của Gia-vin bị đánh bại và bị giết chết. Ít-ra-en được giải thoát khỏi Gia-vin. (Tl 4,1-24).
- Sau chiến thắng tướng Xi-xơ-ra và vua Gia-vin của Ca-na-an, bà Ðơ-vô-ra và Ba-rắc hát một bài ca chúc tụng Ðức Chúa, (Tl 5,1-31).
- Ông Ghít-Ôn (Gideon) và ông A-Vi-Me-Léc (Abimelech), (Tl 6,1-9,7):
- Thiên Chúa gọi ông Ghít-ôn, (Tl 6,1-40).
- Ông Ghít-ôn với 300 quân nhưng nhờ mưu kế đã đánh thắng quân Ma-đi-an (Midian), A-ma-lếch (Amalek) và toàn quân Phương Ðông, (Tl 7,1-22).
- Những người ủng hộ ông Ghít-Ôn, (Tl 7,23-8,3).
- Những người chỉ trích ông Ghít-Ôn, (Tl 8,4-21)
- Ông Ghít-ôn được dân đề nghị làm vua cai trị họ, nhưng ông nói: “Chính tôi sẽ không cai trị, mà con tôi cũng không cai trị anh em, nhưng Ðức Chúa sẽ cai trị anh em.” (Tl 8,22-28).
- Gia đình của ông Ghít-Ôn. Dưới thời Ghít-ôn, Ít-ra-en bình an bốn mươi năm. Sau khi Ghít-ôn mất, dân Ít-ra-en lại thờ thần Ba-an (Baals). (Tl 8, 29-35).
- Vương triều của A-vi-me-léc: Là con ông Ghít-ôn, A-vi-me-léc giết 72 người con của ông Ghít-ôn và được người Ca-na-an ở Si-khem (Shechem) tôn lên làm vua. A-vi-me-léc cai trị và áp bức Ít-ra-en ba năm. Thiên Chúa gây một thần khí bất hoà giữa A-vi-me-léc và các thân hào Si-khem, khiến Si-khem chống lại ông. A-vi-me-léc nổi giận triệt hạ thành và tháp Si-khem. Sau đó A-vi-me-léc tấn công thành Tê-vết (Thebez) và bị giết chết. (Tl 9,12-7).
- Ông Tô-la (Tola) người Ít-xa-kha (Issachar) làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi ba năm. (Tl 10,1-2).
- Ông Gia-ia (Jair) người Ga-la-át (Gilead) làm thủ lãnh Ít-ra-en hai mươi hai năm, (Tl 10,3-5).
- Ông Gíp-tác (Jephthah), (Tl 10,6-12-7):
- Ít-ra-en bị người Am-mon (Ammonites) đàn áp tại Ga-la-át (Gilead), (Tl 10,6-18).
- Các kỳ mục Ít-ra-en xin Gíp-tác đến chỉ huy giao chiến với người Am-mon. Ông Gíp-tác đặt điều kiện. Thiên Chúa gọi ông Gíp-tác (Tl 11,1-11).
- Ông Gíp-tác khấn và thắng trận, (Tl 11,12-33).
- Con gái duy nhất của ông Gíp-tác được dâng lên Thiên Chúa theo lễ toàn thiêu, do Gíp-tác đã khấn, (Tl 11,34-40).
- Ông Gíp-tác bị người Ép-ra-im chỉ trích. Chiến tranh giữa Ép-ra-im và Ga-la-át. Ông Gíp-tác làm thủ lãnh Ít-ra-en sáu năm rồi qua đời, (Tl 12,1-7).
- Ông Íp-xan (Ibzan), người Bê-lem (Bethlehem), làm thủ lãnh Ít-ra-en bảy năm, (Tl 12,8-10).
- Ông Ê-lôn (Elon), người Dơ-vu-lun, làm thủ lãnh Ít-ra-en trong mười năm. (Tl 12,11-12).
- Ông Áp-đôn (Abdon), người Pia-a-thôn (Pirathonite), làm thủ lãnh Ít-ra-en tám năm, (Tl 12,13-15).
- Ông Sam-sôn (Samson) thuộc chi tộc Đan chống kẻ thù Phi-li-tinh, (Tl 13,1-16,31):\
- Ông Sam-sôn ra đời với lời khấn na-dia, (xin xem (Ds 6, 2-8)và nazir) từ lòng mẹ, (Tl 13,1-25).
- Ông Sam-sôn kết hôn với một phụ nữ người Phi-li-tinh. Ông Sam-sôn ra câu đố. Ông Sam-sôn đốt mùa màng của người Phi-li-tinh. (Tl 14,1-15,8).
- Ông Sam-sôn dùng hàm lừa đánh chết một ngàn người Phi-li-tinh, (Tl 15,9-20).
- Chuyện tình của Sam-sôn: Ông Sam-sôn yêu cô Ða-li-la (Delilah), bị Ða-li-la phản trắc cạo hết tóc trên đầu làm mất hết sức mạnh và rơi vào tay của người Phi-li-tinh, (Tl 16,1-22).
- Ông Sam-sôn trả thù rồi chết sau khi làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi năm, (Tl 16,23-31).
Phụ lục, (Tl 17,1-21,25):
- Đền của ông Mi-kha (Micah) và đền của họ Đan, (Tl 17,1-18,31):
- Đền tư của ông Mi-kha: Mi-kha làm các ngẫu tượng và tự mình phong chức cho 1 thầy Lê-vi làm tư tế, (Tl 17,1-13).
- Những người thuộc chi tộc Ðan đi kiếm đất và lập nhà thờ họ Đan, (Tl 18,1-31).
- Tội ác của dân Ghíp-A. Chiến tranh chống Ben-gia-min (Benjamin), (Tl 19,1-21,25):
- Người Lê-vi vùng Ép-ra-im và cô tỳ thiếp, (Tl 19,1-21).
- Tội ác của dân Ghíp-a (Gibeah) thuộc bộ lạc Ben-gia-min, (Tl 19, 22-30).
- Dân Ít-ra-en tập trung tấn công Ghíp-a, (Tl 20, 1-19).
- Ít-ra-en chiến tranh với người Ben-gia-min, Ben-gia-min bại trận, (Tl 20, 20-48).
- Đảm bảo một tương lai cho người Ben-gia-min, (Tl 21, 1-25).
Handout
PowerPoint 3 per page