Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THÁNH TRUYỀN

Thánh Tuyền hàm ý thay đổi trong sự liên tục với quá khứ, có nghĩa là Thánh Truyền tiếp tục khai triển những gì được truyền lại từ các thế hệ trước để áp dụng cho những hoàn cảnh mới và cụ thể chưa từng gặp trong quá khứ.

Ý Nghĩa của Thánh Truyền

Câu 78 của sách Giáo Lý viết:

Việc lưu truyền sống động này, được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, được gọi là Thánh Truyền, để phân biệt với Thánh Kinh, mặc dù nó có liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh. Nhờ Thánh Truyền, “Hội Thánh, qua giáo lý, đời sống và việc phượng tự của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình, và tất cả những gì mình tin”. “Lời các Thánh Giáo phụ chứng thực sự có mặt sống động của Thánh Truyền; và sự phong phú của Thánh Truyền đã thâm nhập vào thực hành và đời sống của Hội Thánh, một Hội Thánh luôn tin và cầu nguyện”.

Câu 92 khẳng định rằng

“Toàn thể các tín hữu… không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ phẩm tính đặc biệt ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi ‘từ các Giám mục cho đến những giáo dân rốt hết’ đều đồng ý cách phổ quát về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa”.

Khoa Tàng Đức Tin được các Tông Đồ truyền lại hơn 2.000 năm qua, luôn luôn được phát triển và đổi mới cho phù hợp với các thời đại khác nhau của nhân loại nnhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhưng những chân lý được truyền lại không bao giờ thay đổi. Như câu 94 viết:

Nhờ Chúa Thánh Thần trợ giúp, sự hiểu biết về các sự việc và các lời nói thuộc kho tàng đức tin có thể được tiến triển trong đời sống Hội Thánh:

  • “hoặc nhờ các tín hữu chiêm ngưỡng và học hỏi, khi đã ghi nhớ các điều đó trong lòng”, đặc biệt “việc nghiên cứu thần học giúp đào sâu hiểu biết về chân lý được mạc khải”;
  • “hoặc nhờ họ đã thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được”; “Lời Chúa lớn lên cùng với người đọc”;
  • “hoặc nhờ việc giảng dạy của những người lãnh nhận một đặc sủng chắc chắn về chân lý do việc kế nhiệm trong chức giám mục”.

Những sự phát triển này phong phú hoá kho tàng đức tin nhưng không thay đổi nó. Mỗi khi hoàn cảnh sống thay đổi, đặc biệt là với những phát triển về khoa học, kỹ thuật, y học và nhân học, các tín hữu ở khắp mọi nơi, từ giáo dân cho đến Giáo Hoàng, suy nghĩ về những điều ấy và tìm cách phân định trong cầu nguyện xem phải áp dụng những hiểu biết về đức tin thế nào trong hoàn cảnh mới theo tinh thần của những gì Thánh Truyền đã truyền lại từ trước. Sau một thời gian dài suy tư, cầu nguyện và bàn luận, những vị có thẩm quyền trong Hội Thánh đồng ý với nhau về những nghi thức phụng tự, những cách hình thành các học thuyết, tổ chức Hội Thánh và những quy luật luân lý, tuy đổi mới, nhưng vẫn phù hợp với những gì đã được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Xin đan cử một thí dụ cụ thể đang được bàn luận là vấn đề thiếu các linh mục trong thế giới hôm nay. Để giải quyết vấn đề này, Hội Thánh đang nghiên cứu viêc cho những người có gia đình làm linh mục ở những vùng rất thiếu ơn gọi. Nhiều người cho rằng không được, vì từ trước đến giờ linh mục phải độc thân. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử thì khác. Trong 12 Tông Đồ, chúng ta biết rõ rằng Thánh Phêrô đã có vợ trước khi theo Chúa, và theo các Thư của Thánh Phaolô, thì không những Thánh Phêrô mà nhiều Tông Đồ khác cũng đem vợ theo với mình khi đi rao giảng.  Như thế trong Hội Thánh đầu tiên thì Đức Giáo và đa số Giám Mục có vợ. Nhưng khi có nhiều ơn gọi và vì nhu cầu của Hội Thánh, đặc biệt là nhu cầu truyền giáo, thì Hội Thánh Công Giáo quyết định là các linh mục phải sống độc thân. Bây giờ nếu Hội Thánh truyền chức linh mục cho những người đã có vợ thì cũng không ngược với Thánh Truyền, vì việc linh mục có vợ hay độc thân không trái ngược với Thánh Kinh hay Thánh Truyền.

Thí dụ thứ hai có thể bàn là việc cử hành Thánh Lễ bằng tiếng bản xứ.  Ngày nay có nhiều người Công Giáo thuộc phe bảo thủ vẫn khăng khăng cho rằng chỉ có Thánh Lễ bằng tiếng Latinh mới thành còn Thánh Lễ bằng tiếng bản xứ thì không thành vì họ cho rằng Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã làm ngược lại với Thánh Truyền khi cải tổ Phụng Vụ.  Thực ra, ngay từ đầu, Hội Thánh đã có nhiều nghi thức Thánh Lễ khác nhau bằng những ngôn ngữ khác nhau, như ở Đông Phương, Thánh Lễ được cử hành bằng tiếng Hy Lạp, trong khi đó ở Tây Phương thì bằng tiếng Latinh. Tuy vậy tất cả đều bao gồm Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể, là những phần cốt cán của Thánh Lễ.

Còn việc truyền chức linh mục cho phụ nữ thì ngược lại với Thánh Kinh và Thánh Truyền vì Chúa chỉ tuyển nam nhân vào chức vụ Tông Đồ, dù có nhiều phụ nữ đạo đức và yêu Chúa hơn các ông nhiều, như Đức Mẹ, bà thánh Mađalêna và nhiều phụ nữ đi theo Chúa.  Đồng thời theo Thánh Truyền thì Hội Thánh không được phép truyền chức cho phụ nữ vì các linh mục không những hành động thay cho Đức Kitô mà còn là hiện thân của Đức Kitô, điều này đòi các ngài phải giống Chúa cả về phái tính lẫn tinh thần.

Xin đan cử một thí dụ về luân lý là việc phá thai.  Đạo Công Giáo cấm phá thai ở bất cứ giai đoạn nào vì nó vi phạm giới răn thứ năm “Chớ giết người”. Những người ủng hộ phá thai cho rằng trẻ em chỉ thành người sau khi được sinh ra nên phá thai là quyền của người mang thai. Nhiều chính trị gia Công Giáo cho rằng có thể phá thai cho đến khi bào thai bắt đầu nhúc nhích trong lòng mẹ vì khi đó các em ới có linh hồn. Họ dựa vào giáo huấn của Thánh Tôma Aquinô, Còn Thánh Tôma thì không dựa vào mặc khải mà dựa vào thuyết của Aristotle là bào thai sau khi thụ thai thì ở trạng thái thực vật từ 40 đến 80 ngày, sau đó các em nhận được linh hồn và trở nên sinh động. Nhưng khoa học ngày nay chứng minh rằng, nagy sau khi thụ thai là đứa bé dã thành một cá nhân với một DNA hoàn toàn khác với người mẹ hay bất cứ ai khác.  Và DNA này không thay đổi suốt đời.

Có nhiều giáo phái Tin Lành cấm không cho dùng đàn organ, TV hay hệ thống âm thanh trong nhà thời vì họ nói rằng Chúa đã không sử dụng chúng trong Thánh Kinh. Điều này tuy nực cười nhưng không phải là không xảy ra trong các giáo xứ Việt Nam một cách tương tự.

Vì thế theo truyền thống Công Giáo, thì chúng ta không được loại bỏ những giáo huấn bất khả ngộ liên quan đến đức tin và luân lý, nhưng chúng ta có thểphát triển chúng trong sự liên tục với những giáo huấn có trước.

Làm thế nào để xác định truyền thống nào là đích thực

Ngay từ thời ban đều, các Kitô hữu đã thắc mắc là làm sao có thể biết rằng mình theo những giải thích đúng về Chúa Giêsu. Theo Thánh Irêne ở thế kỷ thứ hai, thì chúng ta biết điều gì đích thực là Thánh Truyền nếu điều ấy được tất cả các cộng đồng địa phương đã đồng ý và tất cả các giám mục của họ đã chứng nhận ở khắp nơi. Ba thế kỷ sau, Thánh. Vincent of Lerins cũng dạy rằng Thánh Truyền là những gì luôn luôn được tuân theo, ở mọi nơi và bởi tất cả mọi người. Còn những vấn đề mới thì chúng ta phải tuân theo giáo huấn của Huấn Quyền.

Hội Thánh như một gia đình

Hội Thánh cũng chẳng khác gì một gia đình. Bắt đầu chỉ có hai vợ chồng, rồi sau đó có con cái và cháu chắt, họ hàng. Những điều căn bản không thay đổi trong gia đình là vợ chồng, con cái, anh chị em phải thương yêu nhau, nhường nhịn nhau, bênh vực nhau và giúp đỡ nhau; cha mẹ phải thương yêu và dưỡng dục con cái. Còn họ hàng sở dĩ gần gũi nhau vì chia sẻ với nhau cùng một dòng máu và nhiều kỷ niệm về quá khứ. Khi ở Việt Nam, chúng ta giáo dục con cái cách khác, chúng ta gần giũ nhau hơn vì ở cùng một làng, mọt xóm. Khi qua Mỹ chúng ta ít gặp gỡ nhau hơn vì ở hai thành phố hay tiểu bang khác nhau, chúng ta phải tìm cách khác để dạy con vì không còn được dùng roi nữa…. Nhưng chúng ta vẫn thân thiết, thương yêu và giúp đỡ nhau.

Cơ cấu, tổ chức, luật lệ và nghi lễ của Hội Thánh cũng phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, nhưng điều không thể thay đổi được là những niềm tin về tôn giáo và những nguyên tắc về luân lý.  Chúng ta học để biết về những vị tiền bối và các giáo huấn của các ngài…. Đồng thời chúng ta cũng dựa vào những gì chúng ta học được từ các ngài để áp dụn vào hoàn cảnh mới của chúng ta…