Bài Đọc Thêm
Việc xuất bản sách Giêsu thành Nadarét của ĐTC Benêđictô là một đóng góp quan trọng vào Kitô học theo Thánh Kinh. Đó là một diễn tà sâu sắc về cái nhìn thần học của ngài. Vị giáo hoàng 80 tuổi của chúng ta đã xuất bản tập thứ nhất này với ý thức và mục đích khẩn trương. Ngài viết: “Đối với tôi việc trình bày dung mạo và sứ điệp của Chúa Giêsu trong sứ vụ công khai của Người, là ưu tiên cấp bách nhất, và như thế giúp thúc đẩy sự lớn lên của một mối liên hệ sống động với Người.”2 Nguyện xin Thiên Chúa ban cho ngài sức mạnh để viết xong nó!
Mục đích của tôi ở đây không phải để phân tích sách Giêsu thành Nazareth, mà để xem xét một số nguyên tắc chú giải quan trọng làm nòng cốt cho thần học Thánh Kinh của Đức Bênêđictô được minh họa trong Giêsu thành Nazareth. Một quan sát có thể có ngay từ đầu. Tư tưởng của Đức Bênêđictô hoàn toàn phù hợp với các đại văn hào Kitô giáo ban đầu gọi chung là các Giáo Phụ của Hội Thánh. Ngài thấy sự liên tục thiết yếu giữa Hội Thánh của Tân Ước và thời đại của các vị thầy vĩ đại của đức tin này. Các tác phẩm của họ đưa chúng ta đến gần kỷ nguyên Thánh Kinh, “trong đó nước đức tin vẫn chảy tràn không bị ô nhiễm và trong tất cả sự tươi mát của nó”. Điều này giải thích việc Đức Bênê-đictô quyết định dành hai loạt bài giáo lý đầu tiên của mình như giáo hoàng, trước hết cho cá nhân từng tông đồ và sau đó cho những người kế vị các ngài, các Giáo Phụ vĩ đại của Kitô giáo.
Một yếu tố hình thành sự nghiệp thần học của Đức Bênêđictô là cuộc gặp gỡ của ngài với phương pháp phê bình lịch sử của việc giải thích Thánh Kinh, vào cuối thập niên 1940 đã trở thành mô hình thần học có ưu thế ở đại học. Ngài kể câu chuyện tuyệt vời về một nhà chú giải hàng đầu ở Tübingen đã thông báo rằng ông sẽ không còn nhận thêm các đề luận vì “mọi sự trong Tân Ước đã được nghiên cứu xong rồi!”4 Đức Bênêđictô đã nổi bật như một nhà phê bình hùng hốn của phương pháp này. Ngài hiểu rằng cách chúng ta đọc và giải thích Thánh Kinh tác động trực tiếp đến những gì chúng ta tin về Đức Kitô, về Hội Thánh của Người, các bí tích và phụng vụ. Ngài cũng hiểu rằng khi nào Thánh Kinh bị tách rời khỏi Truyền Thống sống động của Hội Thánh, thỉ nó có nguy cơ chỉ trở thành nghiên cứu lý thuyết và tranh luận giữa các chuyên gia.5
Phương Pháp Phê Bình Lịch Sử
Đức Bênêđictô bắt đầu phê bình của ngài với một đánh giá cao về “lịch sử tính” của mặc khải Kitô giáo. Ngài nhấn mạnh rằng chúng ta phải nghiên cứu bối cảnh lịch sử và các văn thể của Thánh Kinh nếu chúng ta muốn nắm được ý nghĩa của nó và đưa nó vào tâm hồn mình. Do đó, phương pháp phê bình lịch sử “là một dụng cụ không thể thiếu được”6 vì: 1) giúp chúng ta hiểu các bản văn Thánh Kinh được viết ra sao và 2) các bản văn này có thể đã có ý nghĩa gì đối với độc giả ban đầu của chúng.7 Đồng thời, Đức Bênêđictô cung cấp một phân tích sâu sắc về việc sử dụng phê bình lịch sử để thanh lọc phương pháp khỏi sự lộn xộn của các giả định sai lầm về triết học, nhận thức luận và lịch sử mà các học giả đã thừa hưởng cách thiếu phê phán từ thời Khai Minh. Vì là một dụng cụ, sự hữu ích của nó tùy thuộc vào cách nó được sử dụng, là điều được hướng dẫn bởi các giả định về chú giải và triết học mà một người dùng trong việc áp dụng nó.
Một giả thuyết sai lầm như trên là cho rằng phương pháp phê bình lịch sử là phương pháp “khoa học” thật sự giống như các khoa học tự nhiên, và do đó, nó có thể mang lại những phát hiện có tính lịch sử chính xác và khách quan. Như một sinh viên cao học trẻ nghiên cứu lịch sử học, tôi đã học được rằng các kết luận lịch sử nên được xem như tạm thời bởi vì chúng thường bị ảnh hưởng sai lạc bởi nhiều yếu tố bao gồm thiên vị và các thành kiến là điều hình thành việc xem xét dữ liệu của các sử gia và những kết luận mà ông rút ra từ chúng.
Đức Bênêđictô nhấn mạnh ba sai sót lớn trong việc sử dụng phương pháp phê bình lịch sử..
Những sai sót của Phương Pháp phê bình lịch sử
Sai sót 1: Mô hình tiến hóa
Nhiều học giả mang theo mình một loại mô hình tân tiến hóa về sự phát triển tự nhiên là mô hình giả định rằng các dạng sống phức tạp phát triển từ các dạng sống đơn giản hơn đã có trước đó. Khi được áp dụng cho việc nghiên cứu trang sách thánh, điều này dẫn người chú giải đến việc giả định rằng (1) “một bản văn càng được coi là có tính thần học và tinh vi hơn, thì mới hơn, và (2) điều gì càng đơn giản hơn thì dễ được coi là bản gốc hơn”.8
Nhưng đâu là bằng chứng “khoa học” biện minh cho giả thiết là các văn bản và ý tưởng tôn giáo phát triển như các sinh vật trong thiên nhiên? Vì vậy, trong khi thuyết tiến hóa có thể là một thuyết hợp pháp trong các khoa học tự nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy rằng các tư tưởng tôn giáo hoặc tâm linh phát triển theo cùng một đường tiến hóa hoặc cùng những quy tắc tiến hóa. Như Đức Bênêđictô XVI đã vạch ra: “Ai có thể cho rằng [thư] Clementê của Roma phát triển hơn hoặc phức tạp hơn [thư] Phaolô? . . . Didache có chứa đựng nhiều hơn các Thư Mục Vụ không?”9
Đức Bênêđíctô vạch ra rằng trong sự phát triển của các Kinh Tin Kính ban đầu, chúng ta quan sát một tiến trình phản tiến hóa. Hội Thánh sơ khai phải đối diện với vô số các danh hiệu và khái niệm phức tạp để diễn tả Chúa Giêsu: Ngôn Sứ, Thượng Tế, Chúa, Môsê mới, Adam mới, Chúa, Đấng Mêsia, Chiên Thiên Chúa, Đấng Mêsia Phu Quân, Người Tôi Tớ Đau Khổ, Con vua Đavít, Con Người. Nó đơn giản hoá tiến trình giải quyết vào ba danh hiệu: Đức Kitô, Chúa, Con Thiên Chúa.10 Điều này cho thấy rằng chứng từ Kitô giáo sớm nhất thật là phức tạp và khác biệt về thần học. Trọng trách của Hội Thánh là nói rõ ràng Chúa Giêsu là ai.
Sai sót thứ 2: Cách Chú Giải theo Hồ Nghi
Nhiều người thực hành phương pháp phê bình lịch sử đã khởi hành từ một khoa chú giải theo hồ nghi mà không suy nghĩ. Thuật ngữ “khoa chú giải” chỉ đơn thuần có nghĩa là nghệ thuật giải thích. Do đó nhiều nỗ lực để nghiên cứu các văn bản Thánh Kinh như một khoa học gia mổ xẻ xác người trong phòng thí nghiệm. Vì vậy các bản văn bị nghiên cứu tách rời khỏi bối cảnh Hội Thánh và phụng vụ ban đầu của chúng. Điều này cũng tương tự như nghiên cứu Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Hiến Pháp tách rời khỏi các hoàn cảnh lịch sử, tác phẩm và ý tưởng của những người đã dựng lên các văn kiện này.
Hậu quả xấu của chú giải theo hồ nghi là các mầu nhiệm bị biến thành các sự vật, là các vật chết ở đó, mà các học giả có thể tùy thích gom lại hoặc tháo ra. Tiếp cận sai sót này có thể so sánh với một nhà khoa học tự nhiên đang nghiên cứu thực vật hoặc động vật mà không đấm xỉa gì đến môi trường sống hoặc môi trường tự nhiên của nó.
Kết quả là phương pháp phê bình lịch sử thường được sử dụng để tháo gỡ các tín điều, thiết lập một Chúa Giêsu thuần túy nhân bản lịch sử đối nghịch với Chúa Giêsu của đức tin. Đức tin của Hội Thánh đã tạo ra Thánh Kinh không còn là cách để tìm Chúa Giêsu nữa. Nó bị coi như bức màn che khuất thực tại lịch sử.11 Việc sử dụng các văn bản truyền thống của Hội Thánh trong các tín điều, giáo huấn luân lý, và các nghi lễ phụng vụ bị loại bỏ như một trở ngại, chứ không như sự trợ giúp, để hiểu được các ý nghĩa nguyên thủy của bản văn. Điều này khiến nhà chú giải giả thiết một cách vô căn cớ rằng chúng ta không thể tin tưởng vào ý nghĩa thông thường của các văn bản Thánh Kinh, bởi vì các nguồn truyền thống ban đầu bị che phủ bằng một lớp vỏ của các tín điều và các quan tâm về thể chế của Hội Thánh.
Ngược lại, Đức Bênêđíctô đã khẳng định tính đáng tin cậy theo lịch sử của các Tin Mừng như là sự thật đúng đắn và như một phản ánh chính xác giáo huấn của Chúa Giêsu. Ngài cho thấy rằng đơn thuần trên cơ sở lịch sử, chứng từ của Tân Ước đáng tin cậy hơn nhiều so với các giả thuyết liên tục thay đổi của học thuật phê bình lịch sử.12
Sai Sót thứ 3: Đức Tin chống lại Lý Trí
Nguyên nhân của việc lạm dụng phương pháp phê bình lịch sử này là việc tách rời đức tin khỏi lý trí. Đức Bênêđíctô đã tìm thấy dấu vết này ở “việc tự giới hạn vào lý trí” trong triết lý của tư tưởng gia Đức thời Khai Minh Immanuel Kant. Kant kết luận rằng lý trí con người không thể nào biết được chân lý và thực tại của “các vật tự thể”, đặc biệt là Thiên Chúa. Kết quả là “lý trí bị cụt” là giới hạn một cách không cần thiết tiến trình suy tư hữu lý của chúng ta về cách làm việc của sự vật và chúng ta phải làm gì với chúng.13 Đột biến về lý trí này dẫn đến giả thuyết sai lầm quá thường tìm thấy trong việc áp dụng phương pháp phê bình lịch sử, nghĩa là, chúng ta không bao giờ có thể biết chắc về các điều vượt quá cảm nhận giác quan của chúng ta. Điều này chỉ dẫn đến việc nghiên cứu “yếu tố nhân loại” của Thánh Kinh, nghĩa là nghiên cứu bị giới hạn vào những điều phù hợp với bằng chứng của giác quan và sự hiểu biết của chúng ta về luật nhân quả tự nhiên.
Củng cố cho điều này là giả định sai lầm rằng không thể nào một con người, Chúa Giêsu Kitô, thực sự là Thiên Chúa và thực hiện các việc cần quyền lực thần linh – các hành động phá vỡ sự phức hợp chung của các nguyên nhân. Kết quả là gì? Các phép lạ bị loại ra như thần thoại, và mọi sự về Chúa Giêsu siêu vượt nhân tính của Người bị cho là không có tính lịch sử.14 “Sự tự giới hạn của lý trí” này trên nguyên tắc, không nhận rằng chúng ta có thể biết cách chắc chắn bất cứ điều gì về việc Thiên Chúa làm hay làm cớ cho điều gì xảy ra trong Thế giới. Bởi vì kinh nghiệm cá nhân của chúng ta không biết gì, chẳng hạn về việc hóa bánh và cá ra nhiều, đi trên mặt nước và sống lại từ cõi chết, học giả Thánh Kinh không thể cho chúng ta biết gì về các đoạn nói về các điều ấy. Kết quả là nhiệm vụ của nhà chú giải trở thành người giải thích rằng các đoạn ấy không xảy ra thay vì chú giải chúng. Các nhà chú giải này không truyền thụ Thánh Kinh bằng cách nói cho tâm hồn con người, nhưng họ thường làm phiền người hiểu biết. Con cái chúng ta chưa được chuẩn bị ở trình độ đại học, kể cả nhiều trường gọi là đại học Công Giáo, thường phải chạm trán với việc phủ nhận các điều siêu phàm và kỳ diệu này.
Một hậu quả tiêu cực của tiếp cận này là đánh mất một viễn cảnh thống nhất. Các sách của Thánh Kinh trở thành một pha trộn của các văn bản không liên hệ gì với nhau. Điều này dẫn đến việc rời xa các lời thật sự trên trang sách để hình thành các giả thuyết khác nhau không thể chứng minh được về việc sản xuất các văn bản: 1) ai đã viết nó, 2) ý định ban đầu là viết cho ai, và 3) các giai đoạn khác nhau việc viết và soạn thảo văn bản.
Hậu quả là một giải thích méo mó giống như những gì người giải thích phỏng đoán là văn bản phải nói. Tín điều của ngườt theo thế tục là không gì có thể thật sự xảy ra trừ những gì đã luôn luôn xảy ra, dẫn đến sự tự khẳng định của nhà chú giải –là về mình, nhưng nó không nói gì về hoạt động của Thiên Chúa trong thế gian, và nó nói với chúng ta rất ít về Thánh Kinh. Trong khuôn khổ giả tạo này, các thắc mắc về sự hiện hữu của Thiên Chúa hoặc ý nghĩa của cuộc sống con người bị loại bỏ như “không có tính khoa học hoặc tiền khoa học”.
Đức Bênêđictô nhận thấy rằng một thần học “không diễn tả lý trí con người trong sự trọn vẹn của nó … không thể được coi là hợp lý”15. Ngài khẳng định rằng lý trý có thể, và phải được thanh lọc khỏi các méo mó này. Rồi các học giả có thể nắm được toàn bộ các câu hỏi mà những người nam nữ có và “vẫn cởi mở để kể đến các chân lý tối hậu”.16 Đức Bênêđictô đặt việc thanh lọc lý trí của mình trên tiêu chuẩn được quan sát trong Kitô giáo thời sơ khai, khi các Thánh Ký và các bậc tôn sư tiên khởi của Kitô giáo gặp triết lý Hy Lạp với “sự hòa hợp sâu xa gữa đức tin và lý trí.”17
Chú Giải theo Đức Tin
Phương pháp phê bình lịch sử, mặc dù là một dụng cụ hữu ích, không thể giải thích đầy đủ ý nghĩa tôn giáo của các văn bản Thánh Kinh. Nó không bao giờ có thể sản xuất ra điều gì hơn các ước đoán và giả thuyết, tất cả đều liên tục bị phủ nhận và thay thế bởi các thuyết sau đó. Bất cứ giải thích nào tách rời khỏi đời sống của Hội Thánh, là cơ chế tạo ra Thánh Kinh, và khỏi những kinh nghiệm lịch sử của Hội Thánh không bao giờ có thể vượt lên trên văn thể của một giả thuyết. Đức Bênêđictô vạch ra rằng điều cần thiết là một “chú giải theo đức tin.”18
Đức Thánh Cha không đề ra một hệ thống giải thích mới, nhưng một chuẩn bị tinh thần hướng về việc nghiên cứu trang sách thánh. Ngài bác bỏ các giới hạn nhân tạo áp đặt lên lý trí và nhấn mạnh rằng đức tin là nguồn tri thức hợp pháp. Quả thật, đem các chân lý đức tin để quy vào các vấn đề trong Thánh Kinh không dập tắt lý trí, nhưng giải phóng lý trí khỏi bị giam cầm trong các giới hạn mà chính nó tự áp đặt lên mình. Sự hợp tác của đức tin và lý trí mở ra ý nghĩa thực sự của các biến cố và giáo huấn được tìm thấy trong Thánh Kinh. Theo Đức Bênêđictô: “Chính Đức tin là một cách để hiểu biết. Nếu một giải thích thuần túy duy vật về thực tại được giả định là một cách diễn tả duy nhất của lý trí, thì chính lý trí đã bị hiểu sai.”19
Phương pháp chú giải theo đức tin phát sinh một cách có hệ thống từ tiến trình lịch sử qua đó Thánh Kinh đã được truyền lại và truyền cho nhau trong Hội Thánh. Bằng cách nghiên cứu tiến trình này mà qua đó Thánh Kinh được bắt đầu và hình thành qua nhiều năm dài nhờ việc rao giảng, giáo huấn và phụng tự của Hội Thánh, các học giả đã khám phá ra điều mà Đức Bênêđictô diễn tả như một “mối liên hệ hỗ tương giữa Hội Thánh và Thánh Kinh, giữa dân Chúa và Lời Chúa”.20 Như thế, thay vì bắt đầu từ các nguyên tắc khoa học và triết học hiện đại, là điều được tùy tiện áp đặt trên các bản văn thánh, Đức Bênêđictô bắt đầu với điều chúng ta biết theo lịch sử về cách Thánh Kinh được sáng tác, biên soạn và truyền lại. Do đó, cách chú giải theo đức tin của ngài bắt đầu trong lòng Hội Thánh. Bằng cách này, ngài mạnh mẽ minh chứng mối liên hệ bất khả phân ly giữa: sự hiệp nhất ban đầu của Lời Chúa, bí tích, thẩm quyền của Hội Thánh và Thánh Truyền.
Đặc biệt, Đức Bênêđíctô đã nhận ra đến ba cơ chế quan trọng làm sáng tỏ sự liên tục lịch sử giữa Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô và Isreal, và do đó giữa phúc âm của Đức Kitô và Lời mà Thiên Chúa đã nói với dân Isreal.
- Cơ chế thứ nhất là sự kế vị các Tông Đồ, truyền thống về việc điều hành và và thừa tác vụ của Hội Thánh, để đảm bảo việc trung thành truyền lại chứng từ và giáo huấn của các Tông Đồ cho thế hệ tương lai. Mười hai Tông Đồ cho thấy sự liên tục của Hội Thánh với mười hai chi tộc Israel.
- Thứ hai, việc thiết lập quy điển, danh sách các bản văn mà các bậc cầm quyền của Hội Thánh coi là được Thiên Chúa linh hứng. Quy điển công nhận “chủ quyền của Lời Chúa” và Hội Thánh như là đầy tớ của Lời Chúa. Đồng thời quy điển đã thiết lập Tân Ước và Thánh Kinh Do Thái như một Sách Thánh Kinh duy nhất và “văn bản chính”.
- Cuối cùng, “quy luật đức tin” (regula fidei), đảm bảo sự giải thích xác thực của Hội Thánh về Lời Chúa phù hợp với chứng từ của các Tông Đồ. Quy luật đức tin trở thành “chìa khóa để giải thích” và là một chứng từ về sự trung thành với chân lý của Hội Thánh.
Thánh Truyền: Memoria Ecclesiae
Đức Bênêđictô cũng nói về memoria Ecclesiae, ký ức của Hội Thánh như tiếng nói sống động (viva vox) của Ngôi Lời, là ký ức về các hành động cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử, nhất là biến cố quyết định nhất về Chúa Kitô từ trời xuống và bước vào lịch sử. Ngài nói: “Toàn bộ Thánh Kinh không gì khác hơn là Thánh Truyền”.21 Đó là việc hoàn tất lời hứa của Đức Kitô là ở cùng Hội Thánh của Người trong Thánh Thần cho đến tận thế (Mt 28:20). Nói cách khác, Thánh Truyền là sự hiện diện sống động, cứu độ và để giải thích của Đức Kitô trong Hội Thánh. Trong bối cảnh này, Hội Thánh hiểu được các biến cố của cuộc đời Đức Kitô như sự hoàn thành của Cựu Ước.
Phụng Vụ Bí Tích
Từ thời các Tông Đồ, Lời Chúa đã không thể tách rời khỏi phụng vụ của Hội Thánh. Đức Bênêđictô chỉ ra rằng “một sách [Thánh Kinh] được công nhận là “thuộc quy điển “nếu đã được Hội Thánh chấp nhận để dùng trong việc thờ phượng công cộng.”22 Thánh Kinh luôn là lời triệu tập để thờ phượng và tôn thờ, để gặp gỡ Đức Kitô trong Bí Tích Thánh Thể như hy tế, hiện diện và bí tích. Bởi vì Lời Chúa luôn luôn tìm kiếm sự hoán cải, luôn dẫn chúng ta đến các bí tích. Ngay từ ban đầu, hai cột trụ của Hội Thánh là: 1) Lời Chúa, và 2) cuộc gặp gỡ của chúng ta với Ngôi Lời trong các bí tích.
Kết luận
Đức Bênêđictô cho thấy rằng các cơ chế ban đầu của Hội Thánh – quy điển TK, việc kế vị các Tông Đồ và Thánh Truyền, và quy luật đức tin – đã được liên kết với nhau và được sắp đặt cho phụng vụ bí tích và sứ vụ của Hội Thánh. Trái ngược với các giả định của khoa phê bình lịch sử, cấu trúc quyền bính, giáo thuyết và phụng vụ của Hội Thánh không phải là các điều thêm vào theo lịch sử chồng lên hoặc áp đặt trên TK. Bằng cách này, Đức Bênêđíctô cho thấy sự sai lạc của phương hồ nghi của cách chú giải hiện đại về điều mà họ cho là “sự can thiệp” của Hội Thánh vào Lời được coi là thuần túy nguyên thủy của Thánh Kinh. Sau cùng, nếu không có các cấu trúc Hội Thánh này thì không có Thánh Kinh!
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ