Nguồn Mạch và Tột Đỉnh Đời Sống Hội Thánh The Source and Summit of the Life of the Church
Reading Assignment in English
- Sacrament Theology (KST), Chapter 6
- Understanding the Sacraments Today – Chapter 3
- Catechism of the Catholic Church (CCC), nos 1322 – 1404
Các Mục Tiêu Học Tập của Tổng Giáo Phận
- MA 2.2.25 The Eucharistic sacrifice serves as an offering for the sins of the living as well as the faithful departed who have died in Christ, but who have not yet been totally purified so they may be united with God in heaven. The sacrifice also provides spiritual and temporal benefits from God by drawing them closer to Christ and helping them to recognize Christ in the poor.
- MA 2.2.26 The Eucharist is the memorial of Christ’s Passover which makes present the sacramental offering of his unique sacrifice in the liturgy of the Church, which is his Body. Christ’s saving life, death, Resurrection, and Ascension is made present for one’s salvation by the action of the liturgy.
- MA 2.2.31 Just as Christ offered his whole self, Body and Blood, as a sacrifice for sins, so too is one’s reception of his Body and Blood under both species an especially fitting participation in his Memorial of eternal life.
- MA 2.3.10 Every liturgical celebration is an action of Christ, the High Priest and his Mystical Body, which requires the participation of the People of God in the work of God.
- MA 2.3.11 The moral command of the Old Testament, to render to God an outward, visible, public and regular worship, and to recall God’s creative, liberating, and covenantal action, finds its fulfillment in the Christian observance of Sunday, as the Lord’s Day, the day on which Christ rose from the dead and made of all a new creation.
MỞ ĐẦU
- Sacrosanctum Concilium (SC) khẳng định sự hiện diện thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Khi ghi nhận rằng Đức Kitô “đặc biệt hiện diện” dưới hai hình thái Thánh Thể, Hiến Chế cũng nói lên sự hiện diện của Đức Kitô trong ba phương thức khác: trong Lời Thánh Kinh; trong con người của thừa tác viên cử hành Thánh Lễ là linh mục; và trong những người được tụ hợp cho buổi cử hành (xem # 7).
- Phương thức hiện diện của Đức Kitô dưới hình dạng Thánh Thể là phương thức hiện diện độc nhất vô nhị …. ” Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy là Đức Kitô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể.” “Sự hiện diện này được gọi là ‘thật sự’, không theo nghĩa loại trừ, nghĩa là không coi các hình thức hiện diện khác như không ‘thật sự’, nhưng theo nghĩa đặc biệt, bởi vì đây là cách hiện diện theo bản thể, và qua đó Đức Kitô toàn thể và trọn vẹn (totus atque integer Christus), vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện một cách chắc chắn” (GLCG 1374).
Trong chương này, chúng ta trước hết sẽ ôn lại những giáo lý cơ bản của Hội Thánh về Bí tích Thánh Thể. Thứ đến là sự liên hệ thần học của Bí tích Thánh Thể với việc thực hành mục vụ. Cuối cùng chúng ta sẽ bàn đến mối liênn hệ iữa việc cử hành Bí tích Thánh Thể công cộng của chúng ta và việc thực hành tôn sùng và tôn thờ Thánh Thể được cất trong Nhà Tạm. Trong bài sau, chúng ta sẽ bàn cách chi tiết về Thánh Lễ.
Bí Tích Thánh Thể: Bí Tích của “Sự Hoàn Hảo”
Bí tích Thánh Thể có thể được coi là “bí tích của sự hoàn hảo” theo hai cách.
Thứ nhất, đó là bí tích hoàn thành việc gia nhập Kitô giáo. Điều này đặc biệt rõ ràng trong RCIA, khi người lớn được rửa tội, thêm sức và sau đó được rước Thánh Thể vào lòng trong Đêm Vọng Phục Sinh. Tiếc thay, điều này không được mấy rõ ràng khi trẻ em được rước lễ lần đầu trước rồi vài năm sau mới được thêm sức như được thức hành ở nhiểu nơi hiện nay.
Thứ hai, Bí tích Thánh Thể có thể được coi là “bí tích của sự hoàn hảo” vì nó là “nguồn mạch và tột đỉnh” (LG, # 11) của đời sống Kitô hữu:
Các bí tích khác, và thực sự là tất cả các tác vụ và việc tông đồ của Hội Thánh đều được liê kết chặt chẽ với Bí tích Thánh Thể và được hướng về phía đó. Vì trong Bí tích Thánh Thể Cực Trọng được đựng toàn thể lợi ích thiêng liêng của Hội Thánh, cụ thể là chính Đức Kitô …
(Công đồng Vatican II, Presbyterorurn Ordins, 1965, # 5)
Trong khi tất cả các bí tích làm cho sự thật trở nên thật hơn đối với chúng ta, thì Bí tích Thánh Thể chứa đựng, một cách đặc biệt, Đấng là Đường, là Sự Sống và Sự Thật của chúng ta. Những dấu chỉ hữu hình – chất thể và mô thể – của Bí tích Thánh Thể không phải là việc xức dầu nhắc lại cho chúng ta sứ vụ cữa bệnh của Đức Kitô,hay những kinh nguyện xin Thiên Chúa ban ơn; chất thể là bánh và rượu trở thành chính Đức Kitô, và những lời của mô thể bí tích là những lời của chính Đức Kitô trong Bữa Tiệc Ly. Bí tích Thánh Thể là bí tích của Hội Thánh chúng ta; đó là bí tích làm nên Hội Thánh. Bí tích Thánh Thể là bí tích mà chúng ta “nhận lấy và ăn” theo nghĩa đen; nó trở thành một phần của chúng ta để chúng ta có thể trở nên giống Đấng mà chúng ta lãnh nhận. Khi linh mục cầu nguyện trong lúc chuẩn bị của lễ, đổ một vài giọt nước vào rượu: Nhờ dấu chỉ nước hoà rượu này, chúng ta có thể tham dự vào thiên tính của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình để chia sẻ bản tính nhân loại của chúng ta”
NHIỀU DANH HIỆU, NHIỀU KHO TÀNG
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, biết tên người nào là có một quyền nào đó trên họ. Biết tên một người là biết một phần về bản chất của người ấy, về căn tính của người ấy. Đó là lý do tại sao chúng ta thường thấy trong Thánh Kinh, một người được đổi tên khi mối liên hệ của người đó với Thiên Chúa thay đổi. Chẳng hạn như Thiên Chúa đổi tên ông Aram thành Abraham khi Ngài “ủy thác” cho ông trở thành cha của nhiều dân tộc. Chúa Giêsu đổi tên ông Simon thành Phêrô khi Người gọi đ ôngi theo Người và trở thành một người chinh phục người ta. Saulô trở thành Phaolô sau khi gặp Chúa trên đường Đamascô, và cuộc đời của ngài thay đổi vĩnh viễn.
Bí tích Thánh Thể, “bí tích hoàn hảo” nên phải có nhiều tên hay danh hiệu khác nhau, vì không một danh hiệu nào có thể nói lên tất cả ý nghĩa của bí tích này. Mỗi danh hiệu chỉ cho chúng ta biết một phần của mầu nhiệm mà chúng ta cử hành và được mời gọi để nhập vào một cách trọn vẹn. Sách Giáo Lý cung cấp chín danh hiệu (với giải thích ngắn gọn) cho Bí tích Thánh Thể, mỗi danh hiệu đề cập đến một phần đặc biệt của kho tàng ẩn giấu mà bí tích này cung cấp cho chúng ta (x. # 1328-1332). Tuy nhiên, một câu kết hợp một số danh hiệu hoặc khái niệm này và nhắc nhở chúng ta rằng, trong khi chúng ta “làm việc” trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể, thì “bí tích hoàn hảo” này trước hết là công việc của Chúa Ba Ngôi: Do đó, chúng ta phải coi Bí tích Thánh Thể là :
- Lễ tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha.
- Lễ tưởng niệm hy tế của Đức Kitô và Thân Nhể Người;
- Sự hiện diện của Đức Kitô nhờ quyền năng của Lời Người và của Thần Khí của Người.
(# 1358)
Tạ ơn Chúa Cha; tưởng niệm hy tế của Đức Kitô; Công việc của Chúa Thánh Thần; chúng ta hãy bàn cách ngắn gọn từng định nghĩa của Bí tích Thánh Thể.
TẠ ƠN VÀ CHÚC TỤNG CHÚA CHA
Danh hiệu cơ bản của bí tích là “nguồn mạch và tột đỉnh” của đời sống Hội Thánh này là Bí tích Thánh Thể. Nguyên gốc Hy Lạp của từ Thánh Thể εύχαριστος có nghĩa là Tạ Ơn. Từ này diễn tả chính xác hành động trung tâm của việc cử hành của chúng ta và lý do tại sao chúng ta cử hành. Khi chúng ta tụ hợp lại với tư cách là Hội Thánh, chúng ta “làm Bí tích Thánh Thể”, chúng ta “cảm tạ” vì những việc Thiên Chúa làm vì chúng ta trong quá khứ, vì sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta bây giờ, và vì lời hứa Ngài sẽ ở lại với chúng ta trong tương lai.
Mặc dù Bí tích Thánh Thể chủ yếu là một hành động tạ ơn cho công việc của Thiên Chúa trong Đức Kitô, chúng ta cũng cảm tạ về toàn thể công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Điều này được thể hiện thường xuyên nhất trong các Kinh Tiền Tụng khác nhau mà qua đó chúng ta bắt đầu Kinh Nguyện Thánh Thể. Những Kinh Tiền Tụng này cảm tạ Thiên Chúa vì công việc của Ngài trong suốt lịch sử cứu độ nhân loại, đôi khi bằng cách đề cập đến những hành động cụ thể của Thiên Chúa, những khi khác (chẳng hạn như trong các Kinh Tiền Tụng cho các lễ kính hoặc tưởng niệm các vị thánh) bằng cách nhắc nhở chúng ta về cách Thiên Chúa hoạt động trong và qua đời sống của những người khác.
Cử hành Bí tích Thánh Thể là chấp nhận một tinh thần tạ ơn, thái độ cơ bản của Kitô hữu. Như đã bàn đến trong Chương 1, một Kinh Tiền Tụng chung cho thấy rõ điều này: “Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban” (Sách Lễ, Kinh Tiền Tụng Chung IV).
TƯỞNG NIỆM HY TẾ CỦA ĐỨC KITÔ VÀ THÂN THỂ NGƯỜI
“Tưởng niệm” không chỉ đơn thuần là thụ động nhớ lại các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Bí tích Thánh Thể là một lễ tưởng niệm theo nghĩa nó là một lời công bố tích cực, tiếp tục loan báo chúng ta là ai vì điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta qua Con của Ngài. Lễ tưởng niệm này cũng là một lời loan báo về tin mừng rằng Chúa Giêsu thay đổi cuộc đời chúng ta.
Chúng ta không thể bỏ qua khía cạnh “hy sinh” của Bí tích Thánh Thể, vì đó là hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá mang lại cho Bí tích Thánh Thể quyền năng lâu dài trong cuộc sống chúng ta. Bữa Tiệc Ly không chỉ là một trong nhiều bữa ăn mà Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ. Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu chia sẻ chính Mình Người cách đặc biệt, một cách sẽ thay đổi mãi mãi sự hiểu biết của các môn đệ về Người, về chính họ và về sứ vụ của họ (x. GLCG, # 1365).
SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC KITÔ QUA QUYỀN NĂNG CỦA LỜI NGƯỜI VÀ THẦN KHÍ CỦA NGƯỜI
Nhờ những Lời của chính Đức Kitô và quyền năng của Chúa Thánh Thần mà bánh và rượu chúng ta dâng được ban lại cho chúng ta như Mình và Máu Đức Kitô. Giống như mỗi Kinh Nguyện Thánh Thể chứa đựng những lời truyền phép, là những lời mà Đức Kitô đã nói trong Bữa Tiệc Ly để xác định rằng bánh và rượu là Mình và Máu của Người, nên những lời trong mỗi Kinh Nguyện Thánh Thể được đi trước bởi các lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần, epiclesis, để Ngài “… thánh hoá những của lễ này, để trở nên cho chúng con, Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
Bí Tích Thánh Thể trong Thực Hành: Sùng Kính và Tranh Luận
BIẾN THỂ: NHIỀU HƠN BIẾN ĐỔI BÁNH VÀ RƯỢU
Công Đồng Trentô coi việc biến thể (transubstantiation) là một lời giải thích “phù hợp và đúng đắn” về cách toàn thể bản thể của bánh và rượu được biến thành bản thể của Mình và Máu Đức Kitô. Định tín của Công Đồng Trentô là điều cần thiết cho giáo huấn và hiểu biết của Công giáo về sự hiện diện thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể.
Mặc dù GLCG xác nhận rõ ràng sự hiện diện thực sự, thật và bản thể của Đức Kitô dưới những dấu chỉ diễn tả và truyền thông tình yêu của Người dành cho chúng ta (xem # 1373-1381), cuối cùng, sách cũng thừa nhận rằng sự hiện diện thật của Đức Kitô chỉ có thể được hiểu bởi Đức tin. Sử dụng những lời của Thánh Cyrillô thành Alexandria, GLCG khuyến khích chúng ta: “Bạn đừng hồ nghi điều này có thật hay không, nhưng tốt hơn nên đón nhận bằng đức tin các lời của Đấng Cứu Độ, bởi vì Người là chân lý, Người không lừa dối bao giờ”.
Nhưng Bí tích Thánh Thể không chỉ là về việc thay đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô. Chắc chắn Bí tích Thánh Thể là thế, nhưng còn hơn thế nữa. “Lý do” của sự biến thể chỉ bắt đầu được tỏ lộ khi bánh và rượu trở thành Mình và Máu Đức Kitô. Sự biến thể nói về sự thay đổi của những của lễ mà chúng ta đặt trên bàn thờ ngõ hầu cuộc sống chúng ta được biến đổi, để chúng ta trở nên giống như Đấng mà chúng ta lãnh nhận (“Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên của lễ muôn đời dâng tiến Chúa “, trong lời của Kinh Nguyện Thánh Thể III).
Nếu những thay đổi hỗ tương này, thay đổi bánh và rượu và thay đổi đời sống chúng ta, dường như không liên quan với nhau đối với chúng ta, thì chúng ta vẫn chưa nghe thấy những lời có sức thuyết phục mà Tin Mừng Matthêu đưa ra cho chúng ta về việc thờ phượng Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Ở đó, chúng ta được bảo rằng nếu chúng ta nhớ lại có ai có điều gì bất hoà với chúng ta, ngay cả khi chúng ta mang của lễ của mình đến bàn thờ, thì chúng ta phải để của lễ của mình lại và làm hoà với họ trước (x. 5:24). Rõ ràng chúng ta phải làm hòa với nhau khi chúng ta tôn thờ Hoàng tử hòa bình; chúng ta phải hiệp thông trước khi chúng ta rước lễ.
Hãy yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Hai điều răn này được gắn liền với nhau, không phải vì chúng là hai mặt khác nhau của cùng một đồng tiền, mà bởi vì chúng là mặt duy nhất của một loại tiền cho phép chúng ta vào Nước Trời.
“HÃY LÀM ĐIỀU MÀ NHỚ ĐẾN THẦY” – NHƯNG “ĐIỀU NÀY” LÀ GÌ?
Tân Ước cung cấp cho chúng ta năm tường thuật về Bữa Tiệc Ly mà Chúa Giêsu dùng với các môn đệ của Người. Vì mục đích của chúng ta, chúng ta coi các tường thuật trong các Tin Mừng Marcô, Matthêu và Luka, và Thư Thứ Nhất của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrinhtô như một tường thuật. Mặc dù có những khác biệt, chúng ta được cho biết rằng Chúa Giêsu cầm lấy bánh và rượu, nâng lời chúc tụng, đồng hoá bánh và rượu với Mình và Máu của Người, và nói với các môn đệ rằng, “Các con hãy làm điều này để tưởng nhớ đến Thầy”.
Tuy nhiên, chúng ta tìm thấy một điều khác biệt trong tường thuật về Bữa Tiệc Ly của Tin Mừng Gioan. Trong tất cả các tác giả Tin Mừng, chỉ có một mình Thánh Gioan không nói gì về bánh và. Có lẽ vì ở thời điểm Tin Mừng cuối cùng được viết, không cần nhắc nhở các Kitô hữu rằng Chúa Giêsu đồng hoá bánh và rượu với Mình và Máu của Người nữa.
Nhưng điều mà Thánh Gioan thấy cần phải bao gồm là lệnh truyền cho các môn đệ rửa chân cho nhau.
“Vì vậy, nếu Thầy là Chúa và là Thầy, mà Thầy đã rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau, vì Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con.” (13: 14-15)
Giáo huấn của Chúa Giêsu về “hãy làm việc này” không phải chỉ nói về việc dâng bánh và rượu trên bàn thờ, màcòn về việc khiêm nhường phục vụ nhau trong cuộc sống hàng ngày, dường như là kết quả cần thiết đối với việc đồng hoá bánh và rượu với Mình và Máu của Đức Kitô trong các Tin Mừng Nhất Lãm. Thật vậy, nhiều thế hệ trước Tin Mừng Gioan, Thánh Phaolô cảm nhận được mối liên hệ chặt chẽ này vì ngài dạy rằng: “Anh em không biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cor 3:16).
Chúng ta không cử hành Thánh Lễ rồi “thu dọn và cất đi”. Hơn nữa, việc chầu Thánh Thể sẽ thất bại nếu việc sùng kính cá nhân của chúng ta không sinh hoa trái. Nếu chúng ta không bái gối (theo nghĩa bóng là khiêm nhường phục vụ) trước hình ảnh của Thiên Chúa trong anh chị em mình, thì chúng ta không thể thậm chí nghĩ đến việc bái gối theo nghĩa đen trước Đức Kitô dưới hình bánh rượu, mà không có ý lừa đảo, giả hình hay vọng tưởng.
HY TẾ THÁNH THỂ CẦN ĐƯỢC CỬ HÀNH LẬP ĐI LẬP LẠI – VÌ TRONG CHÚNG TA LUÔN LUÔN THIẾU MỘT ĐIỀU GÌ
Dường như nhiều người Công giáo ngày nay khó chịu khi nói về Bí tích Thánh Thể như một hy lễ (lễ hy sinh). Họ cho rằng hy sinh nói quá nhiều về bạo lực hoặc bất công; về nghèo đói và sự chết. Họ nghĩ rằng tốt hơn là mô tả Bí tích Thánh Thể bằng những lời đầm ấm và ban sự sống, những lời chia sẻ, ăn uống, kể chuyện và truyền giáo.
Nhưng ngôn ngữ về lễ hy sinh không phải là về bất công hay bạo lực; mà về lòng thương xót và bình an. Và sự hy sinh của Kitô giáo không nói về nghèo đói và cái chết, nhưng cuối cùng, về sự sung mãn và sự sống. Theo nguyên ngữ La Tinh thì hy sinh là sacrum facere: “thánh hoá, làm việc thánh”. Do đó, sự hy sinh của Kitô hữu không nói về việc từ bỏ hay không làm một điều gì đó có giá trị lớn. Trái lại, hy sinh nói về “thánh hoá”, “làm điều gì là thánh”, và do đó nhận được nhiều hơn bởi vì chúng ta đã trở nên nhiều hơn.
Hơn nữa, các cuộc thảo luận về hy lễ của chúng ta trên bàn thờ là lập đi lập lại (tái trình bày) hy lễ của Chúa trên đồi Calvê là vô nghĩa, trừ khi chúng ta ý thức rằng chúng ta cần thường xuyên cử hành Thánh Lễ. Có nhiều điều chúng ta cần phải làm và nhắc lại thường xuyên trong cuộc sống nếu không chúng ta có nguy cơ quên mất mình là ai và tại sao chúng ta ở đây.
Lễ hy sinh của các Kitô hữu không phải là một hành động tự khen mình. Kitô hữu cũng không hy sinh để xoa dịu một Thiên Chúa nóng giận. Việc dâng Thánh Lễ – tạ ơn – là một hành động Kitô hữu phải lập đi lập lại nhiều lần. Vì tạ ơn là thừa nhận rằng chúng ta đang mắc nợ vì chúng ta đã nhận được ân sủng.
Như thần học gia Hans Urs von Balthasar đã từng quan sát một cách sắc sảo, Chính Kitô giáo, được truyền đạt bởi Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, liên tục nhắc nhở các tín hữu của mình rằng họ là con cái và vì thế, họ phải xin và cảm tạ vì mọi sự: không phải vì những món quà có thể bị từ chối, nhưng chính là để chúng có thể được công nhận là những món quà.
Việc Chầu và Tôn Sùng Thánh Thể
Thực hành lòng sùng kính Thánh Thể là biết rằng, về mặt lịch sử, việc thực hành cất giữ Thánh Thể trong nhà tạm lúc ban đầu được phát triển như một cách để đảm bảo rằng Thánh Thể như Của Ăn Đàng lúc nào cũng có sẵn cho người sắp chết, và các Mình Thánh còn lại có sẵn cho việc cử hành Thánh Lễ khi cần thiết. Sự thật lịch sử chỉ là vậy, tuy nhiên; chúng nói với chúng ta điều gì về quá khứ, mà không tự động đề nhị cho hiện tại hay ra lệnh cho tương lai.
Lịch sử cho thấy việc sùng kính Thánh Thể được cất trong nhà tạm càng ngày càng trở nên quan trọng trong linh đạo Công giáo trong thế kỷ thứ mười và mười một. Việc Chầu Thánh Thể được phát sinh một phần như một phản ứng với những người đã chối bỏ sự hiện diện thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Hơn nữa, sau đó, việc sùng kính Thánh Thể đã phát triển vì có nhiều người cảm thấy không xứng đáng để rước Lễ nên họ chỉ dám chầu Thánh Thể thôi
Tại sao chầu Thánh Thể?
Có những lúc cần phải “làm việc” để Chúa có thể được phục vụ và ngợi khen. Nhưng, như câu chuyện của Martha và Mary (xem Lc 10: 38-42) cho thấy rõ, có những lúc chúng ta phải gác lại công việc của mình ngay cả “công việc” quan trọng của phụng vụ để nghe Chúa nói với chúng ta cách mà Người chỉ có thể, khi ngôn ngữ chúng ta sử dụng không phải là nói, hát, có thể nghe được của nghi lễ công cộng, mà là ngôn ngữ thầm lặng của một con tim ở một mình với tình yêu vĩ đại nhất của nó và với người tình tuyệt vời nhất.
Chúng ta quây quần quanh bàn thờ để cử hành Thánh Lễ vì chúng ta có thể tự hào trong Chúa, như thánh Phaolô nói, và vì chúng ta được mời gọi hát một bài hát vui, như thánh vịnh nói. Nhưng không phải chúng ta chỉ cầu nguyện chung hay mà không cầu nguyện riêng . Theo gương của Chúa, chúng ta cầu nguyện cùng nhau và cầu nguyện một mình; chúng ta cho và chúng ta nhận.
Chúng ta không được để cho ý thức về sự bất xứng của mình làm chúng ta tránh xa việc tham dự bàn tiệc của Chúa. Nhưng chúng ta nên để cho cảm giác bất xứng của chúng ta đưa chúng ta đến trước mặt Chúa, mặt đối mặt, một mình, trong “sự im lặng thổn thức” tuyệt đối của con tim mình. Một số điều chỉ có thể được nghe trong im lặng. Nếu “đời sống cầu nguyện là thói quen sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa Chí Thánh và hiệp thông với Ngài” (GLCG, # 2565), thì một số phần của cuộc sống đó chỉ có thể “xảy ra” – chỉ có thể được bắt đầu, phát triển , và củng cố – vào những lúc chúng ta cố tình ngừng công việc và lời nói của mình và để Chúa nói với mình.
Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của hoạt động của Hội Thánh. Tuy nhiên, chúng ta thường nghe người khác, hoặc chính mình, cảm thấy rằng kinh nghiệm tại bàn tiệc ban sự sống này là bình thường, theo thói quen, thậm chí nhàm chán. Làm thế nào chúng ta có thể hồi sinh các cuộc cử hành Thánh Thể của mình?
Nếu chúng ta chỉ biết và kinh nghiệm Đức Kitô trong “việc tích cực cử hành Thánh Lễ”, nếu chúng ta chỉ biết Người khi chúng ta “xin Người xuống”, khi chúng ta công bố các bài đọc, hát các bài hát và dâng lễ vật, và nếu đây là những lần duy nhất chúng ta biết Đức Kitô, thì có lẽ chúng ta không biết gì về Người. Chắc chắn chúng ta phải biết Đức Kitô trong bàn tiệc Thánh Thể, nhưng chúng ta phải biết rằng sự hiện diện của Đức Kitô, trên hết, không phụ thuộc vào những gì chúng ta làm. Trước hết và chung cuộc, sự hiện diện của Đức Kitô giữa chúng ta, trong cuộc đời chúng ta là một ân sủng. Và, như thánh Phaolô nói, chính nhờ ân sủng này mà chúng ta được cứu độ, chứ không phải bởi bất cứ điều gì chúng ta làm, ngay cả bởi công việc cao cả mà phụng vụ là (x. Eph 1: 5-14). Thay vào đó, chúng ta được cứu vì những gì Đức Kitô đã làm cho chúng ta (x. Tit 3: 5).
Hiểu biết về Thánh Thể là điều tốt, nhưng vô ích nếu chúng ta không sống bí tích Thánh Thể. Sức mạnh tối thượng của các bí tích không phải là khả năng thay đổi cách chúng ta nghĩ về đức tin của mình, mà là khả năng thay đổi cuộc sống của mình. Cũng tương tự, Bí tích Thánh Thể sẽ không bao giờ là Ngôi Lời làm người cho thế gian bằng cách gắn các giáo lý, giáo điều và giáo huấn vào mình mà chỉ bằng cách cho thế gian thấy sự khác biệt mà Bí Tích này tiếp gây ra trong chúng ta.
Ân Sủng của Bí Tích Thánh Thể
Hiệu quả của việc rước lễ (1391-1401):
- Được kết hợp mật thiết với Đức Kitô. Như của ăn vật chất nuôi thân xác thế nào, việc rước lễ cũng nuôi nấng đời sống thiêng liêng như vậy. Ðể đời sống ân sủng tăng triển, chúng ta phải được bí tích Thánh Thể dưỡng nuôi cho đến giờ lâm tử; lúc ấy chúng ta sẽ đón nhận như Của Ăn Ðàng.
- Giúp chúng ta xa lánh tội lỗi. Bí tích Thánh Thể thanh tẩy chúng ta khỏi tội đã phạm và giúp chúng ta xa lánh tội lỗi.
- Củng cố đức ái mà trong đời sống hằng ngày. Ðức ái sống động này có thể xóa đi các tội nhẹ. Ðức Kitô làm cho tình yêu chúng ta sống dậy, ban sức mạnh để ta tự giải thoát khỏi những ràng buộc bất chính với thụ tạo và gắn bó ta chặt chẽ với Người.
- Nhờ tình yêu mà bí tích Thánh Thể khơi dậy trong tâm hồn, chúng ta được gìn giữ khỏi phạm tội trọng.
- Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Ai rước lễ, đều được liên kết chặt chẽ với Đức Kitô. Nhờ đó, Người kết hợp họ với các tín hữu khác thành một một thân thể duy nhất là Hội Thánh. Bí tích Thánh Tẩy tháp nhập ta vào Hội Thánh, bí tích Thánh Thể canh tân, củng cố và kiện toàn sự tháp nhập này.
- Bí tích Thánh Thể đòi buộc chúng ta phải chăm sóc người nghèo. Ðể thực sự lãnh nhận Mình và Máu Ðức Kitô, chúng ta phải nhận ra Người trong những người nghèo nàn nhất.
Bí tích Thánh Thể và sự hiệp nhất các Kitô hữu.
- Các Giáo Hội Ðông Phương, dù không hoàn toàn hiệp thông nhưng vẫn liên kết chặt chẽ với với Hội Thánh Công Giáo vì có các bí tích đích thực nhờ sự kế nhiệm các Tông Đồ, nhất là chức linh mục và bí tích Thánh Thể.
- Các cộng đoàn phát sinh từ cuộc Cải Cách, đã ly khai khỏi Hội Thánh Công giáo “không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh,” vì thế Giáo hội Công Giáo không thể cùng với họ cử hành bí tích Thánh Thể được.
Bảo chứng cho vinh quang mai sau (1402-1405)
Bí tích Thánh Thể cũng còn là tiền dự vào vinh quang thiên quốc. Hội Thánh biết rằng, trong bí tích Thánh Thể, Chúa đã đến và đang hiện diện giữa chúng ta; nhưng Người vẫn còn ẩn mình. Vì thế, khi cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta “đợi chờ ngày hồng phúc, ngày Chúa Giêsu Kitô, Ðấng cứu độ chúng ta ngự đến.” Bí tích Thánh Thể là bảo chứng chắc chắn và là dấu chỉ tỏ tường về hy vọng một Trời Mới Ðất Mới, nơi đó công lý ngự trị.
TÓM LƯỢC
1. Bí tích Thánh Thể hoàn tất việc khai tâm Kitô giáo. Bí tích Thánh Thể là bí tích “hoàn hảo”: đó là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu” (LG # 11, GLCG # 1324).
2. Bí tích Thánh Thể, Bữa Tiệc Ly của Chúa, bẻ bánh, Cuộc hội họp Thánh Thể, Hy Lễ tưởng niệm: không một danh hiệu có thể nắm bắt hoàn toàn mầu nhiệm và quyền năng của bí tích này mà qua đó Đức Kitô tự hiến cho Hội Thánh của Người mãi mãi.
3. Thái độ Kitô hữu là tạ ơn. Bí tích Kitô hữu là Bí tích Thánh Thể. Chúng ta cảm tạ công việc Thiên Chúa làm cho chúng ta trong quá khứ, vì sự hy sinh của Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô và vì sự tiếp tục hiện diện của Thiên Chúa và Con của Ngài trong cuộc đời chúng ta và trong Hội Thánh qua hoạt động của Chúa Thánh Thần.
4. Hội Thánh dạy rằng, sự biến thề – sự thay đổi toàn thể bản chất của bánh và rượu thành bàn chất của Mình và Máu Đức Kitô – là một cách “đúng đắn và phù hợp” để hiểu “sự hiện diện thật” của Đức Kitô dưới những hìanh thái của các yếu tố bí tích. Hội Thánh cũng nhận ra rằng mầu nhiệm này có thể được tiếp cận tốt nhất, chung cuộc, bằng đức tin.
5. “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Lệnh truyền này của Chúa Giêsu đề cập đến việc Chúa cầm lấy, chúc lành và ban bánh và rượu là Mình và Máu của Người. Nó cũng đề cập đến mệnh lệnh của Chúa Giêsu đối với các môn đệ của Người trong bài tường thuật Bữa Tiệc Ly của Thánh Gioan, là “các con hãy rửa chân cho nhau” (13:14). Những gì chúng ta nhận được trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta không được giữ cho chính mình.
CÂU HỎI ĐỂ SUY NGHĨ VÀ THẢO LUẬN
- Sách GLCG cung cấp chín danh hiệu cho Bí tích Thánh Thể (xem # 1328-1332), mỗi danh hiệu gợi ý một phần của hành động tạ ơn cao cả này dành cho tình yêu của Thiên Chúa. Những danh hiệu nào quan trọng nhất đối với bạn?
- Tại sao chúng ta coi Bí tích Thánh Thể là “bí tích hoàn hảo”?
- “Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban” (Sách Lễ, Kinh Tiền Tụng Chung IV).” Điều đó có nghĩa là gì? Bạn có đồng ý rằng “tạ ơn” là thái độ của Kitô hữu không? Những thái độ nào khác nâng đỡ và khuyến khích chúng ta “tạ ơn” để trở thành “dân Thánh Thể”?
- Khi nói rằng Đức Kitô hiện diện dưới hình bánh và rượu, trong cộng đồng tụ họp, trong Thánh Kinh và con người của linh mục có nghĩa gì?
- Cách mà chúng ta, với tư cách là Hội Thánh, cử hành Bí tích Thánh Thể dạy chúng ta những gì về cuộc sống của chúng ta như Hội Thánh và cuộc sống của chúng ta với Thiên Chúa? Việc sùng kính cá nhân của chúng ta về Bí tích Thánh Thể dạy chúng ta điều gì?
- Làm thế nào để các chương trình và tiến trình của giáo xứ của chúng ta có thể chuyển từ tập trung vào việc chuẩn bị “lãnh nhận Bí tích Thánh Thể” sang tập trung vào việc chuẩn bị để “sống Thánh Thể”?