Xin đọc phần tiếng Việt Nam sau phần tiếng Anh.
In this lesson, we will discuss the relationship between Theology of the Body and Humanae Vitae or Love and Fertility.
Please read the above links and the following video and answer the following questions before you come to this class.
- Why does the Church not allow using contraception?
- Is the teaching of Humanae Vitae ordinary teaching or infallible teaching of the Magisterium?
- What are two inseparable meanings of the conjugal act?
Làm ơn coi video và trả lời các câu hỏi dưới đây:
- Tại sao Hội Thánh không cho phép sử dụng các phương pháp ngừa thai?
- Giáo Huấn của Humanae Vitae là giáo huấn thông thường hay giáo huấn không sai lầm của Huấn Quyền?
- Hai yếu tố bất khả phân ly của hành vi chăn gối là gì?
Trong bài trước, chúng tôi đã đưa ra một suy tư tóm lược và đơn giản hóa về Bí tích Hôn phối như được giải thích trong chu kỳ thứ năm của các bài giáo lý (87-113) của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II về thần học thân xác. Trong bài này, chúng ta tiếp tục suy niệm của chúng ta, chuyển sang chu kỳ thứ sáu và cuối cùng của loạt bài giáo lý của Đức Thánh Cha (114-129), nói về tình yêu và khả năng sinh sản.

Các chủ đề phụ mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong bài này là:
- Bài chú giải của Thánh Gioan Phaolô II về thông điệp Humanae Vitae
- Tiêu chuẩn luân lý của Humanae Vitae
- Cương vị giáo lý của Humanae Vitae
- Humanae Vitae và luật tự nhiên
- Có phải mọi hành vi chăn gối đều phải mang lại một sự sống mới không
- Sự khác biệt giữa việc ngừa thai và kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên (NFP)
- Liệu NFP có phủ nhận ý nghĩa sinh sản của việc chăn gối hay không
- Tại sao hai ý nghĩa của việc chăn gối không thể tách rời
- Hai ý nghĩa của việc chăn gối phong phú hóa lẫn nhau như thế nào
- Thánh Gioan Phaolô II kết thúc các bài giáo lý về thần học thân xác ra sao.
1. Chú giải của Thánh GIOAN PHAOLÔ II về Humanae Vitae
Như chúng tôi đã đề cập ở những bài trước, thần học thân xác của Thánh Gioan Phaolô II thực sự là một bài chú giải rất lớn về thông điệp tiên tri Humanae Vitae của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, được ban hành vào năm 1968. Các chủ đề chính của tài liệu này là sự truyền sinh của con người và tình yêu vợ chồng, cũng như nhắc lại việc Hội Thánh khăng khăng lên án việc ngừa thai, triệt sản và phá thai. Năm chu kỳ trước trong thần học thân xác là bước chuẩn bị cho chu kỳ cuối cùng này, trong đó bài chú giải của Đức Thánh Cha về Humanae Vitae trở nên rõ ràng.
Ngay từ đầu, Thánh Gioan Phaolô II đã nói rõ rằng phần chú giải của ngài không về toàn thể thông điệp. Ngài muốn tập trung vào số 12 của tài liệu, trong đó Thánh Phaolô VI dạy rằng người nam và người nữ phải tôn trọng mối liên hệ không thể tách rời giữa ý nghĩa sinh sản và ý nghĩa hợp nhất của hành vi vợ chồng:
Giáo lý đặc biệt này, thường được huấn quyền Hội Thánh giải thích, dựa trên mối liên hệ bất khả phân ly giữa ý nghĩa hợp nhất và ý nghĩa sinh sản cố hữu của hôn nhân, do Thiên Chúa thiết lập, mà con người không thể tự mình tách chúng ra. Lý do là bản chất cơ bản của hôn nhân, trong khi liên kết hai vợ chồng trong sự mật thiết gần gũi nhất, cũng làm cho họ có khả năng tạo ra sự sống mới – và điều này là kết quả của các luật được viết vào bản tính thực sự của người nam và người nữ. Và nếu mỗi đặc tính thiết yếu này, tính hợp nhất và khả năng sinh sản, được duy trì, thì việc sử dụng hôn nhân vẫn hoàn toàn giữ được ý nghĩa của tình yêu thương nhau thực sự và sự quy định về trách nhiệm cao trọng nhất của vai trò làm cha mẹ mà con người được mời gọi.
Thánh Gioan Phaolô II bắt đầu áp dụng giáo huấn trước đây của ngài về thần học thân xác vào giáo huấn cơ bản của Humanae Vitae này, và thêm vào đó, để cho thấy Humanae Vitae làm sáng tỏ thần học thân xác như thế nào.
Như chúng tôi đã đề cập trong bài trước, Thánh Gioan Phaolô II đã dạy rằng hành vi vợ chồng phải được hiểu theo sự thật được diễn tả bằng ngôn ngữ của thân xác. Ngôn ngữ đó phải thể hiện tình yêu đích thực luôn luôn mở ra cho sự sống mà chú rể và cô dâu cam kết với nhau bằng lời thề ước trong hôn lễ, và điều họ thể hiện với nhau sau này trong việc chăn gối.
2. Tiêu Chuẩn Luân Lý của Humanae Vitae
Humanae Vitae quy định rằng vợ chồng phải luôn tôn trọng mối liên hệ không thể tách rời giữa ý nghĩa sinh sản và ý nghĩa hợp nhất của hành vi vợ chồng, một mối liên kết thực sự được Thiên Chúa khắc ghi trong chính bản thể của người nam và người nữ. Mối liên kết bất khả phân lý này là trung tâm của ý nghĩa phối ngẫu của thân xác, và nó phải luôn được thể hiện bằng một ngôn ngữ trung thực tương ứng của thân xác trong mọi hành vi chăn gối.
Để vợ chồng diễn tả được với nhau ngôn ngữ chân thật này của thân xác, họ phải nội tâm hóa hai ý nghĩa của hành vi vợ chồng và của chính họ. Sau đó, họ sẽ không coi các tiêu chuẩn của Humanae Vitae như một điều gì đó xa lạ đối với chính họ, mà là một điều liên quan đến sự thật về con người của họ như người nam và người nữ và như vợ chồng.
Một lần nữa, chúng ta thấy thiên tài của Thánh Gioan Phaolô II trong hành động: sự liên tục luôn phải tồn tại giữa sự hiểu biết chủ quan và việc đánh giá cao các giá trị vốn có trong một tiêu chuẩn luân lý (mà ngài gọi là “ethos”) và việc sống ngoài tiêu chuẩn luân lý khách quan. Đó là về sự liên tục giữa khía cạnh chủ quan (không phải chủ nghĩa chủ quan) và khía cạnh khách quan của đời sống luân lý. Chỉ bằng cách này, người Công giáo mới có thể trở thành những Kitô hữu trưởng thành.
3. Cương vị Giáo lý của Humanae Vitae
Thánh Gioan Phaolô II dạy rằng mặc dù tiêu chuẩn luân lý này không được ghi rõ ràng trong Thánh Kinh, nhưng nó vẫn tồn tại trong Thánh Truyền. Nó đã được Hội Thánh dạy cách không thể sai lầm ngay từ ban đầu và đã đạt đến đỉnh cao trong Humanae Vitae. Do đó, tiêu chuẩn này thực sự thuộc về mặc khải của Thiên Chúa, và như vậy phải được các tín hữu chấp nhận với sự vâng phục của đức tin vào Thiên Chúa.
Hơn nữa, mặc dù tiêu chuẩn này không có trong Thánh Kinh một cách rõ ràng, nhưng nó có nguồn gốc từ thần học Thánh Kinh về thân xác. Nói cách khác, nó được thành lập dựa trên nhân học chính xác mà Sách Thánh dạy chúng ta. Thực ra, thần học thân xác mà chúng ta đã khám phá cho đến nay là nền tảng cho tiêu chuẩn này của Humanae Vitae.
Hãy nhớ lại rằng thần học thân xác dạy chúng ta rằng Thiên Chúa đã ghi vào chính bản chất thân xác và tinh thần của người nam và người nữ khả năng yêu thương với một tình yêu luôn mở ra cho sự sống. Chúng ta gọi điều này là ý nghĩa phối ngẫu của thân xác và biểu hiện trung thực của nó trong hôn nhân là ngôn ngữ của thân xác. Có một mối liên hệ không thể tách rời được giữa hai điều này; ngôn ngữ của thân xác trong hành vi vợ chồng cụ thể hóa ý nghĩa phối ngẫu của thân xác.
4. Humanae Vitae và Luật Tự Nhiên
Vì tiêu chuẩn luân lý của Humanae Vitae được Thiên Chúa khắc ghi trong bản tính thân xác và tinh thần của người nam và người nữ, nên nó cũng thuộc về luật tự nhiên. Hãy nhớ lại rằng luật tự nhiên đề cập đến luật luân lý mà Thiên Chúa đã viết vào chính bản tính của người nam và người nữ (xem Rôma 2: 14-16).
Tiêu chuẩn luân lý này là tiêu chuẩn phổ quát, ràng buộc lương tâm tất cả mọi người. Vì vậy, tiêu chuẩn của Humanae Vitae cũng ràng buộc lương tâm tất cả mọi người. Humanae Vitae 12 (được trích dẫn ở trên) kết thúc: “Chúng tôi tin rằng những người đồng thời với chúng tôi có khả năng đặc biệt nhận ra rằng giáo huấn này hòa hợp với lý trí của con người.”
Có nghĩa là, vì giáo huấn của Humanae Vitae thuộc về luật tự nhiên, nó có khả năng được lý trí của con người nắm bắt, vì theo định nghĩa, luật tự nhiên “là sự tham gia vào sự khôn ngoan và tốt lành của Thiên Chúa bởi con người được hình thành theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa của mình” (CCC 1978).
Chúng ta có thể nghĩ rằng Đức Phaolô VI đã hơi ngây thơ khi nghĩ rằng ngay cả những người bên ngoài Hội Thánh cũng có thể đánh giá cao tính hợp lý của Humanae Vitae, khi ngay cả trong Hội Thánh, giáo huấn này cũng bị bác bỏ. Nhưng Đức Thánh Cha đã đúng. Ngài đề cập đến khả năng ố hữu mà con người có thể hiểu và chấp nhận tiêu chuẩn này.
Vấn đề không nằm ở chính tiêu chuẩn mà ở việc nhiều người Công giáo, ngay cả các linh mục và thần học gia, không chấp nhận chân lý này vì trước đó họ đã bị khuất phục trước não trạng hưởng khoái lạc và dễ dãi của thế gian.
5. Có Phải Mọi Hành Vi Chăn Gối Đều Phải Mang Lại Một Sự Sống Mới Không
Humanae Vitae 11 nói: “Tuy nhiên, Hội Thánh trong việc thúc giục con người tuân theo các giới luật của luật tự nhiên, được giải thích bằng giáo lý không bao giờ thay đổi của mình, dạy rằng mỗi hành vi hôn nhân cần thiết phải giữ được mối quan hệ nội tại của nó đối với sự sinh sản của sự sống con người.”
Chúng ta có thể thấy rõ rằng Đức Phaolô VI không nói rằng mọi hành vi vợ chồng phải tạo ra một sự sống mới. Ngài nhận thức rõ ràng “thực sự, như kinh nghiệm cho thấy, sự sống mới không phải là kết quả của mỗi và mọi hành động quan hệ tình dục. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã thu xếp và thiết lập những định luật, những chu kỳ tự nhiên của mầm sống: Chính những chu kỳ ấy có sức giảm bớt số sinh. Thiên Chúa đã sắp đặt một cách khôn ngoan các luật tự nhiên và tính thường xuyên của việc sinh sản theo cách mà các lần sinh liên tiếp đã được sắp xếp một cách tự nhiên qua sự vận hành vốn có của các quy luật này” (số 11).
Ý của Đức Thánh Cha khi nói rằng mọi hành vi vợ chồng phải mở ra cho sự sống đơn thuần là vợ và chồng phải tôn trọng mối liên hệ không thể tách rời giữa hai ý nghĩa của hành vi chăn gối: sinh sản và hợp nhất. Sự tôn trọng này được thể hiện khi người phối ngẫu không cố ý phá hủy khuynh hướng tự nhiên của hành vi vợ chồng để tạo ra sự sống mới. Khi vợ hoặc chồng tôn trọng cấu trúc nguyên thủy và tự nhiên của hành vi chăn gối, họ đồng thời tôn trọng mối liên hệ không thể tách rời giữa các mục đích kết hợp và sinh sản của hành vi vợ chồng. Nói một cách cụ thể, họ tôn trọng cấu trúc của hành vi vợ chồng khi họ từ chối các biện pháp ngừa thai, triệt sản, phá thai và bất kỳ hành vi sử dụng không tự nhiên nào đối với khả năng tình dục của họ, chẳng hạn như giao hợp nửa chừng hoặc kê giao.
6. Sự khác biệt giữa các phương pháp ngừa thai và kế hoạch hóa gia đình tự nhiên
Khi vợ chồng có lý do nghiêm trọng để giữ khoảng cách thụ thai, tại sao NFP lại tốt hơn ngừa thai?
Trước hết, mục đích của một hành vi không phải là yếu tố duy nhất quyết định tính luân lý của nó. Chính hành động, các phương tiện được sử dụng để đạt đến mục đích mong muốn, cũng phải tốt và phù hợp với luân lý, nghĩa là, phù hợp với các giá trị hoặc những sự tốt lành đích thực vốn có trong bản tính con người.
Việc ngừa thai và NFP hoàn toàn khác nhau. Thực ra, chúng trái ngược nhau. Việc ngừa thai không tôn trọng cấu trúc ban đầu và tự nhiên của hành vi vợ chồng; nó cố tình gây trở ngại cho trật tự vốn có của hành động vợ chồng đối với việc truyền sinh.
Và do đó, việc ngừa thai cố tình tách sự sinh sản ra khỏi sự kết hợp vợ chồng. Nó làm mất đi khả năng mở lòng ra đón nhận sự sống cố hữu của tình yêu vợ chồng. Một tình yêu không mở ra để đón nhận sự sống là tình yêu khô cằn, và nó không phải là tình yêu chút nào. Việc ngừa thai mâu thuẫn với ngôn ngữ cố hữu của thân xác, phủ nhận việc hoàn toàn tự hiến bằng cách phủ nhận khả năng sinh sản của một người, đó là một chiều kích nội tại của con người. Vì vậy, việc ngừa thai không chỉ chống lại sự sinh sản mà còn chống lại chính tình yêu vợ chồng.
Thánh Gioan Phaolô II đã bày tỏ một cách siêu phàm sự khác biệt giữa việc ngừa thai và NFP trong tông huấn của ngài về Gia đình Kitô giáo, Familiaris Consortio, số 32:
Khi các cặp vợ chồng sử dụng phương pháp ngừa thai, tách biệt hai ý nghĩa này mà Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã ghi khắc trong bản thể của người nam và người nữ và trong sự năng động của sự hiệp thông tình dục của họ, họ đóng vai trò là “trọng tài” của kế hoạch của Thiên Chúa và họ “thao túng” và hạ giá phái tính của con người — và với nó hạ giá chính con người họ và người bạn đời của họ — bằng cách thay đồi giá trị của sự tự hiến “hoàn toàn”. Do đó, ngôn ngữ bẩm sinh diễn tả sự tự hiến hoàn toàn cách hỗ tương giữa hai vợ chồng được phủ lên, qua việc ngừa thai, bằng một ngôn ngữ mâu thuẫn ngược lại, nghĩa là ngôn ngữ không tự hiến hoàn toàn cho người kia. Điều này không chỉ dẫn đến việc tích cực khước từ mở lòng ra với sự sống mà còn dẫn đến việc làm sai lệch sự thật bên trong của tình yêu vợ chồng, vốn được kêu gọi trao tặng toàn thể con người.
Do đó, việc sử dụng NFP đúng cách có thể là một phần trách nhiệm của việc làm cha mẹ trong khi việc sử dụng phương pháp ngừa thai luôn luôn là vô trách nhiệm. Đương nhiên, những cặp vợ chồng muốn quảng đại và mong muốn có một gia đình lớn cũng có trách nhiệm. Thực ra, họ là một tấm gương cho tất cả chúng ta, và sự quảng đại của họ nên được trân trọng và cử hành.

7. NFP có phủ nhận Ý Nghĩa Sinh Sản của Hành vi Vợ Chồng không?
Cần phải nói rõ, việc sử dụng NFP mà không có lý do chính đáng cũng là một sai lầm nghiêm trọng. Nhưng sự dữ nằm trong ý định của người phối ngẫu, chứ không phải trong những hành động được sử dụng để đạt được ý định của họ. Hội Thánh Công giáo dạy rằng để một hành động tự do của con người trở thành một hành động luân lý, thì chính ý định và hành động phải tốt, và hoàn cảnh phải thích hợp.
Việc ngừa thai tự nó là một hành động sai trái, không lệ thuộc vào động cơ và hoàn cảnh. Chính NFP là tốt về mặt luân lý nhưng nó phải được sử dụng với mục đích chính đáng (không ích kỷ).
Thánh Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng NFP tự bản chất là tốt vì nó phù hợp với luật tự nhiên. Đó là lý do tại sao từ “tự nhiên” phải là một phần nội tại của thuật ngữ đề cập đến các phương pháp NFP. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu tại sao NFP là tự nhiên và tại sao phương pháp ngừa thai không phải là tự nhiên:
- Trước hết, chúng ta không nói rằng NFP là tự nhiên, đơn thuần vì nó không sử dụng các phương tiện nhân tạo. (Một số cặp vợ chồng, với những lý do chính đáng, sử dụng các thiết bị vi tính để xác định ngày dễ thụ thai để họ có thể điều chỉnh hành vi vợ chồng của mình cho phù hợp. Tuy nhiên, việc sử dụng này không trái với luật tự nhiên.) NFP theo cơ bản là tự nhiên vì nó tương ứng với bản tính của con người như một bản thể tổng hợp cơ bản của thân xác và linh hồn, một linh hồn được phú cho sức mạnh của trí tuệ và ý chí tự do.
- Thứ hai, NFP tôn trọng mối liên hệ bất khả phân ly giữa ý nghĩa sinh sản và ý nghĩa kết hợp của hành vi vợ chồng bằng cách đơn thuần tôn trọng hành vi này vì nó đã được Thiên Chúa thiết kế. Nó không cố ý tạo ra một trở ngại cho việc truyền sinh. Nó để cửa mở ra cho Thiên Chúa tạo ra một sự sống mới. NFP tôn trọng ý nghĩa phối ngẫu của thân xác và ngôn ngữ tương ứng của thân xác.
- Cuối cùng, NFP tương ứng với bản tính của con người (và do đó luật tự nhiên) vì muốn cho nó hiệu quả, vợ hoặc chồng phải tận dụng hai khả năng cao nhất của con người: trí tuệ và ý chí. Bằng trí tuệ, vợ chồng học các phương pháp của NFP (thực ra thì không khó học chút nào). Bằng ý chí, vợ hoặc chồng khép thân xác và ý chí của họ vào kỷ luật và thực hành đức khiết tịnh phu thê trong thời kỳ không thể thụ thai, nếu họ có lý do chính đáng để giữ khoảng cách của việc sinh con, hoặc bằng cách tập trung các hành vi vợ chồng của họ trong những ngày có thể thụ thai, nếu họ muốn có thai.
Như chúng tôi đã bàn đến, việc khiết tịnh trong hôn nhân đòi hỏi một kỷ luật tâm linh về cả thân xác lẫn linh hồn. Thánh Gioan Phaolô II gọi kỷ luật này là “phương pháp sư phạm của thân xác” và nói thêm rằng phương pháp sư phạm của thân xác này cũng là một phần của thần học thân xác. Vì vậy, thần học thân xác không chỉ đơn thuần là một điều gì trừu tượng hoặc một khái niệm; nó cũng là một thực tại thực tế. Nó khuyến khích vợ chồng khép mình vào kỷ luật để sống khiết tịnh phu thê, không chỉ bằng cách kiêng cữ quan hệ vợ chồng vì những động lực nghiêm túc, mà còn bằng cách thế họ tham gia vào các hành vi vợ chồng của mình: “Hoạt động tình dục, trong đó vợ chồng được kết hợp với nhau một cách mật thiết và trong sạch, qua đó sự sống con người được truyền lại, như Công đồng Vaticanô II gần đây đã nhắc lại, là ‘cao quý và xứng đáng’” (Humanae Vitae 11, nhấn mạnh thêm).
Ngược lại, trong trường hợp ngừa thai, vợ hoặc chồng không có nỗ lực đặc biệt nào trong việc sử dụng trí tuệ và ý chí của mình. Thực ra, họ chỉ dựa vào các phương pháp ngừa thai để làm việc (ngừa thai) cho họ. Và, như chúng ta đã thấy, việc ngừa thai mâu thuẫn với ý nghĩa và ngôn ngữ của thân xác.
Hơn nữa, do mâu thuẫn với ý nghĩa và ngôn ngữ của thân xác, việc ngừa thai cũng mâu thuẫn với bí tích hôn phối. Nghĩa là, việc ngừa thai mâu thuẫn với dấu chỉ của bí tích này, vốn bao gồm những lời cam kết giữa những người sắp kết hôn trong hôn lễ của họ và sự kết hợp vợ chồng sau này thể hiện sự cam kết của họ. Vì vậy, ngừa thai không chỉ là phản tình yêu, phản sự sống, mà nó còn là một dấu chỉ ngược lại, phản bí tích. Nó không diễn tả bản chất của hôn nhân, là một tình yêu luôn mở ra cho khả năng truyền một sự sống mới.
8. Sự kết nối bất khả phân ly giữa việc Sinh sản và Kết Hợp
Tại sao mối liên hệ giữa ý nghĩa sinh sản và ý nghĩa kết hợp của hành vi vợ chồng phải luôn được tôn trọng?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy đọc lại từ Familiaris Consortio (số 32, một đoạn văn ngập tràn thần học thân xác):
Theo kinh nghiệm của bao nhiêu cặp vợ chồng và dựa vào những dữ kiện của các khoa học nhân bản khác nhau, suy tư thần học có thể nhận ra, và được mời gọi đào sâu thêm, cả sự khác biệt nhân học và luân lý có sẵn giữa việc ngừa thai và việc thuận theo nhịp định kỳ: đó là một sự khác biệt rộng và sâu hơn người ta tưởng, và trong phân tích cuối cùng, nó liên hệ đến hai quan niệm không thể dung hòa được về con người và về tính dục con người. Việc chọn theo những nhịp tự nhiên bao gồm việc chấp nhận chu kỳ của con người, tức là chu kỳ của người nữ, và như thế cũng chấp nhận sự đối thoại, sự kính trọng lẫn nhau, tinh thần trách nhiệm chung và sự tự chủ. Để chấp nhận chu kỳ và bước vào cuộc đối thoại là nhận ra đặc tính vừa tinh thần vừa thân xác của sự hiệp thông vợ chồng, và sống tình yêu con người với đòi hỏi trung thành của nó. Trong bối cảnh ấy, cặp vợ chồng kinh nghiệm được cách sự hiệp thông phu thê được phong phú hóa bằng các giá trị của việc âu yếm và yêu thương đang tạo nên linh hồn nội tâm của phái tính con người, cả trong chiều kích thể lý của nó nữa. Bằng cách này, phái tính được kính trọng và đề cao trong chiều kích nhân bản thực sự và trọn vẹn của nó, nhưng không bao giờ được “sử dụng” như một “đồ vật”, mà, qua việc làm đứt sự hợp nhất ngôi vị của linh hồn và thân xác, đánh vào chính công việc tạo dựng của Thiên Chúa ở mức độ tương tác sâu thẳm nhất giữa bản tính và con người.
Vậy sự thật là thế: tiêu chuẩn quy định sự tôn trọng mối dây nối kết bất khả phân ly dựa trên sự hợp nhất của con người. NFP tôn trọng sự hợp nhất ấy; phương pháp ngừa thai làm việc chống lại nó.
Nhưng đó không phải là tất cả. NFP cũng tôn trọng sự thật thần học rằng người nam và người nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa; ngừa thai mâu thuẫn với sự thật này. Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa nghĩa là người nam và người nữ có khả năng đi vào sự hiệp thông cá nhân sâu xa với Thiên Chúa và với nhau. Nhưng Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa vốn là Tình yêu và Sự sáng tạo. Thiên Chúa yêu thương vô hạn trong chính Ngài bởi sự tương tác vĩnh cửu của các Ngôi Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa cũng quyết định bày tỏ Tình yêu của Ngài “bên ngoài” chính Ngài bằng cách tự do tạo ra chúng ta vì yêu. Vì vậy, trong Thiên Chúa, tình yêu và việc tạo dựng đi đôi với nhau. Là những sinh vật được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta, như những cặp vợ chồng Kitô hữu, cũng phải là những người đồng sáng tạo yêu thương với Thiên Chúa của các sự sống con người mới.
9. Hai Ý nghĩa của Hành Vi Chăn Gối phong phú hóa nhau thế nào
Ý nghĩa sinh sản và hợp nhất của hành vi vợ chồng không chỉ bao hàm nhau mà còn phong phú hóa lẫn nhau. Khi một cặp vợ chồng thực sự mở lòng ra với sự sống và vui vẻ đón nhận một sự sống mới mà Thiên Chúa đã ban quyền cho họ để tạo ra, thì nhiệm vụ sinh sản của họ không kết thúc ở đó. Nhiệm vụ của họ thực sự chỉ mới bắt đầu, bởi vì như Hội Thánh dạy, việc sinh sản thực sự không chỉ liên quan đến việc sinh ra con cái mà còn liên quan đến việc giáo dục chúng theo đường lối của Thiên Chúa. “Sự phong phú của tình yêu phu phụ không chỉ giới hạn ở việc sinh sản con cái, mà còn phải mở rộng đến cả việc giáo dục luân lý và đào tạo thiêng liêng cho con cái.” (GLCG 2221). Tất cả chúng ta đều biết rằng việc nuôi dạy con cái theo cách của Chúa là một nhiệm vụ khó khăn. Nó đòi hỏi cha mẹ phải yêu thương con cái một cách hy sinh. Nhưng tình yêu bác ái hy sinh này lại làm cho tình yêu của cha mẹ dành cho nhau như vợ chồng được thêm phong phú. Tình yêu hy sinh này có sức mạnh thanh lọc tình yêu vợ chồng và tình dục (eros) khỏi mọi khuynh hướng ích kỷ, do đó làm cho nó trở nên chân thật và ít ích kỷ hơn. Tình yêu xác thit (eros) cần tác dụng thanh tẩy của đức ái, như Đức Bênêđíctô XVI đã dạy một cách tuyệt vời trong Thông điệp “Thiên Chúa là Tình yêu” (“Deus Caritas Est”). Và khi tình yêu vợ chồng càng ngày càng trở nên trong sạch, nó lại càng phong phú hóa tình yêu hy sinh của cha mẹ dành cho con cái trong một vòng xoáy càng ngày càng gia tăng của tình yêu vợ chồng và gia đình.
Thực ra, Hội Thánh dạy rằng vòng xoáy tình yêu này làm cho gia đình Kitô hữu trở thành một biểu tượng (hình ảnh) của Thiên Chúa Ba Ngôi. “Gia đình Kitô giáo là sự hiệp thông giữa các ngôi vị, là dấu chỉ và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần” (GLCG 2205).
10. Thánh Gioan Phaolô II Kết thúc Các Bài Giáo lý của Ngài về Thần học Thân xác
Thánh Gioan Phaolô II đã kết thúc loạt bài giáo lý về thần học thân xác trước hết bằng cách khẳng định rằng những suy tư như vậy về Humanae Vitae là cần thiết vì có nhiều câu hỏi mà cả người Công giáo và ngoài Công giáo đã đặt ra liên quan đến bản chất của hôn nhân, tình yêu vợ chồng và sự sinh sản. Humanae Vitae và thần học thân xác của Thánh Gioan Phaolô II cung cấp nhiều câu trả lời cho những câu hỏi này. Nhiệm vụ của các linh mục, giáo dân (đặc biệt là các bậc cha mẹ), thần học gia, thầy cô dạy về tôn giáo, những người hướng dẫn dự bị hôn nhân, và giáo lý viên cho giới trẻ và người lớn là phải nghiêm túc nghiên học hỏi toàn bộ giáo lý phong phú này và truyền đạt nó cách hiệu quả cho các tín hữu.
Nền văn hóa sự sống đòi hỏi phải có nền văn hóa khiết tịnh, bao gồm, một cách đặc biệt, sự trong sạch vợ chồng, như nền tảng của nó. Ngoài ra, không có cách nào khác để thiết lập một nền văn hóa sự sống và một nền văn minh của tình yêu thực sự.
Lời kết
Thần học thân xác mà Thánh Gioan Phaolô II đã khai triển là một mỏ vàng của giáo lý phong phú và xinh đẹp của đạo Công giáo không chỉ về hôn nhân, tình yêu vợ chồng, sự sinh sản, và gia đình, mà như chúng tôi đã trình bày ở đầu các bài này, một cách nhìn mới mẻ và đánh giá cao giáo huấn Công giáo liên quan đến nhiều chủ đề cơ bản: người nam, người nữ, việc Tạo Dựng, Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh, các bí tích, và thời sau hế, trong số những chủ đề khác.
Chúng tôi khuyến khích các chủng sinh, linh mục và người có trách nhiệm lãnh đạo các đoàn thể giáo dân, đặc biệt là giới trẻ, nghiên cứu thần học thân xác. Qua đó, chúng ta sẽ có thể thu hút nhiều người đến với Hội Thánh Công giáo vì họ sẽ cảm nhận được vẻ đẹp sâu xa, sự tốt lành và chân lý của giáo lý Công giáo.