Dẫn Nhập vào Thần Học Thân Xác – Introduction to Theology of the Body

English Version

Nguyên tác của Adolfo J. Castañeda – trong Human Life International, ngày 9 tháng 10 năm 2020 – Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển dịch.

Từ năm 1979 đến năm 1984, Thánh Gíao hoàng Gioan Phaolô II đã dành 129 bài giáo lý ngày thứ tư hàng tuần dể dạy về giới tình và hôn nhân của con người tại Quảng trường Thánh Phêrô. Loạt bài này thường được gọi là Thần Học Thân Xác (TOB).

Trong lớp này chúng ta sẽ chia thành 5 lớp học

  1. Thủa Ban Đầu: Sự Kết Hợp Nguyên Thủy của Người Nam và Người Nữ [1-23].
  2. Sự trong sạch của Tâm Hồn [24-63].
  3. Sự Sống lại của Thân Xác [64-72] và Sự Khiết tịnh và Độc thân của Kitô hữu vì Nước Thiên Chúa [73-86]
  4. Bí tích Hôn phối [87-107].
  5. Tình yêu và việc Sinh sản theo Humanae Vitae [114-129]

Định Nghĩa Thần Học Thân Xác

Từ “thần học” có nghĩa là tìm hiểu hay nghiên cứu về Thiên Chúa. Chính xác hơn, nó có nghĩa là nghiên cứu những gì Thiên Chúa đã mặc khải về chính Ngài và về chúng ta (GLCG 68). “Thần học Thân Xác” đề cập đến việc tìm hiểu Thiên Chúa là ai và chúng ta là ai bằng cách suy nghĩ về những gì Thiên Chúa đã mặc khải về thân xác con người, đặc biệt là trong bối cảnh hôn nhân Kitô.

Điều này có lẽ làm cho nhiều người ngạc nhiên vì tìm hiểu về Thiên Chúa đáng phải lẽ qua một điều thiêng liêng, chứ không phải vật chất như thân xác. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng Thiên Chúa đã mặc khải chính Ngài cách trọn vẹn trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Bây giờ Thánh Kinh nói rằng “Ngôi Lời đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Gion 1:14, xem thêm TOB 23). Nói cách khác, Con Thiên Chúa vĩnh cửu, Ngôi Hai của Ba Ngôi Chí Thánh, đã mang thân xác con người và linh hồn con người để bày tỏ tình yêu thương của Thiên Chúa cho chúng ta (GLCG 458).

Hơn nữa, Chúa Giêsu đã hiến mình trên thập giá để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và để hòa giải chúng ta với Thiên Chúa (Luca 22:19 và GLCG 457). Cuối cùng, Người đã sống lại từ cõi chết để chiến thắng sự chết và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Thân xác của Chúa Phục sinh là một thân xác hiển vinh. Sự Phục Sinh của Người không chỉ đơn thuần là sống lại, mà là đi vào một cuộc sống vĩnh cửu và vinh hiển. Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trung tín của Người rằng họ cũng sẽ được sống lại với thân xác vinh hiển (Ph 3:21). Thân xác của Đức Kitô là cách rõ ràng nhất, trong đó Thiên Chúa đã mặc khải chính Ngài cho chúng ta và kế hoạch cứu rỗi của Ngài cho chúng ta (TOB 23).

Nhưng linh hồn thì sao? Chúa Giêsu không đến để cứu linh hồn chúng ta sao?

Người thực sự đến để cứu toàn thể con người, thân xác và linh hồn. Nếu bạn nghĩ về điều đó, sự cứu rỗi của chúng ta không thể là cách nào khác. Chúng ta là những sinh vật có cả thân xác lẫn linh hồn (GLCG 364). Vì vậy, thật phù hợp khi Chúa Giêsu Kitô đã đến trong thân xác để cứu cả xác lẫn hồn chúng ta.

Đúng là khi chết, linh hồn rời xác để chịu phán xét trước mặt Thiên Chúa. Nhưng vào ngày tận thế sẽ có sự tái hợp của thân xác với linh hồn. Nếu một người trung thành với Thiên Chúa, người ấy sẽ ở trong sự hiện diện của Ngài mãi mãi trong thân xác lẫn linh hồn, giống như Đức Kitô và Mẹ của Người là Mẹ Maria ngay lúc này trên Thiên đàng cả hồn xác (GLCG 1023-1024).

Hãy lưu ý rằng trong Kinh Tin Kính mà chúng ta đọc trong Thánh Lễ Chúa Nhật, chúng ta tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào sự sống lại của thân xác. Linh hồn không được đề cập đến. Lý do cho điều này là sự tồn tại của linh hồn có thể được chứng minh chỉ bằng lý trí. Tuy nhiên, sự phục sinh của thân xác chúng ta, và đặc biệt nhất là sự phục sinh của Thân xác Đức Kitô, là những thực tại vượt qua khả năng hiểu biết của lý trí con người. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa mặc khải cho chúng cho chúng ta (GLCG 50).

Và hôn nhân có liên quan gì đến Thần học Thân Xác?

Sự thực thì nó có liên quan rất nhiều. Trong Êphêxô 5: 21-33, Thánh Phaolô nói rằng hôn nhân của Kitô hữu là một sự phản ánh tình yêu của Đức Kitô đối với Hội thánh, tức là thân thể của Người. Cuộc hôn nhân thực sự là của Chúa Giêsu và Hiền Thê của Người là Hội Thánh, hôn nhân của chúng ta là một dấu chỉ hữu hình của cuộc hôn nhân đó. Điều này không có nghĩa là cuộc hôn nhân của chúng ta là không có thật. Ngược lại, nó cho thấy phẩm giá tuyệt vời của hôn nhân Kitô giáo bằng cách nhấn mạnh đến nguồn gốc thiêng liêng của nó trong sự kết hợp của Đức Kitô và Hội Thánh của Người (TOB 87-93).

Hơn nữa, chúng ta là Hội Thánh. Chúng ta là thân thể của Đức Kitô và Đức Kitô là đầu của chúng ta (Êphêxô 5:23). Thánh Phaolô dùng hình ảnh thân thể con người để minh họa ý của ngài về Hội Thánh là thân mình Đức Kitô và sự kết hợp của Hội Thánh với Chúa Giêsu. Đúng là sự kết hợp của chúng ta với Đức Kitô là một sự kết hợp tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta được hiệp thông với Mình, Máu, Linh hồn và Thiên tính của Chúa Giêsu (GLCG 1413). Nhưng điều này không phải là tất cả. Khi Rước Lễ, chúng ta cũng kết hợp cách thiêng liêng (một cách thần bí) với anh chị em của mình trong Đức Kitô. Bằng cách này, chúng ta xây dựng Nhiệm thể Đức Kitô một cách rất thực (GLCG 1416).

Làm sao thân xác con người có thể là dấu chỉ của hiện diện của Thiên Chúa, Đấng là hoàn toàn Thiêng Liêng (xin xem Gioan 4:24)?

Đó chính là điểm mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đưa ra trong Thần học Thân Xác. Như chính ngài đã nói: “Thực ra, thân xác, và chỉ thân xác, mới có khả năng làm cho những gì vô hình thành hữu hình: những gì thuộc về tâm linh và Thiên Chúa” (TOB 19). Đức Thánh Cha dạy rằng Thiên Chúa đã đặt để trong thân xác con người khả năng này như một dấu chỉ của mầu nhiệm vô hình về tình yêu và sự sống của Ngài ngay từ ban đầu.

Ngài cũng dạy điều được gọi là ý nghĩa phối ngẫu của thân xác. Điều này ám chỉ đến sự kiện là Thiên Chúa cũng ghi vào thân xác của người nam và người nữ khả năng bày tỏ tình yêu như một món quà tự hiến, đồng thời ban sự sống (TOB 15). Ngài đã tạo ra người nam và người nữ cho nhau để họ bày tỏ với nhau tình yêu đích thực luôn rộng mở sự sống. Đây là lý do tại sao Thiên Chúa tạo dựng hôn nhân ngay từ đầu cuộc tạo dựng. “Vì vậy, một người nam bỏ cha mẹ mình và kết hợp vợ mình, và họ trở nên một xác thịt” (Sáng thế ký 2:24).

Thánh Gioan Phaolô II cũng dạy trong Thần học Thân Xác rằng sự kết hợp nguyên thủy trong hôn nhân giữa người nam và người nữ là bí tích nguyên thủy hay đầu tiên. Bằng cách này, ngài muốn nói rằng qua sự dấu hiệu kết hợp về thể xác ban đầu của họ, người nam và người nữ bày tỏ tình yêu và ân sủng vô hình của Thiên Chúa đối với nhau và với các thụ tạo khác (TOB 97-98).

Có phải Đức Kitô đã thiết lập bảy bí tích, trong đó có cả bí tích hôn phối không?

Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng chúng ta hãy xem các bí tích nói chung là gì. Hội Thánh dạy chúng ta, “Các bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng [sự sống của Thiên Chúa], do Đức Kitô thiết lập và giao phó cho Hội Thánh, nhờ đó sự sống thần linh được ban cho chúng ta.” (GLCG 1131).

Mỗi từ trong định nghĩa này đều có một ý nghĩa rất quan trọng. Chúng ta hãy xem xét thuật ngữ “dấu chỉ”. Tất cả chúng ta đều biết rằng một dấu chỉ là một điều vật chất tượng trưng cho một điều khác. Ví dụ, lá cờ Mỹ tượng trưng cho Nước Hoa Kỳ và sự tôn trọng mà chúng ta dành nó. Tương tự như vậy, trong mỗi bí tích có những dấu chỉ đại diện cho một thực tại vô hình, đó là ân sủng của Thiên Chúa. Ví dụ về những dấu chỉ này là nước, dầu, lời nói và các cử chỉ.

Tuy nhiên, có điều gì đó trong các dấu chỉ bí tích này mà các dấu chỉ khác không có. Và điều gì đó được thể hiện bằng từ then chốt là “hữu hiệu”. Ở đây, “hữu hiệu” có nghĩa là dấu chỉ bí tích mang lại những gì nó biểu thị. Một lá cờ không làm cho thực tại của quốc gia được hiện thực. Nó chỉ đơn thuần chỉ ra thực tại ấy. Nhưng trong trường hợp của các bí tích, các dấu chỉ làm cho thực tại của ân sủng được hiện thực. Chẳng hạn, trong Bí tích Rửa tội, nước và những lời “Cha rửa con nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” không những chỉ đến thực tại của ơn thánh hóa của Thiên Chúa, mà còn qua chúng. thực tại ấy trở thành hiện thực.

Bây giờ trong trường hợp hôn nhân Kitô giáo, những lời thề nguyện mà chú rể và cô dâu trao đổi trong lễ cưới và sự kết hợp vợ chồng của họ sau đó tạo thành dấu chỉ của bí tích này. Khi Thánh Gioan Phaolô II nói rằng sự kết hợp nguyên thủy của người nam và người nữ là bí tích nguyên thủy, ngài muốn nói đến một điều rất đặc biệt. Ý của ngài là qua sự hợp nhất nguyên thủy này, Thiên Chúa đã ban ân sủng của Ngài cho người nam và người nữ và cho các thụ tạo khác. Chúng ta hãy nhớ rằng lúc bấy giờ người nam và người nữ đang ở trong tình trạng vô tội. Họ chưa phạm tội nguyên tổ (Gn 3). Do đó, thân xác của họ là dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng và tình yêu vô hình của Thiên Chúa dành cho người nam và người nữ và các thụ tạo khác (TOB 97-98).

Nhưng chẳng phải Đức Kitô đã lập Bí tích Hôn phối sao?

Chắc chắn rồi. Điều đã xảy ra là không may người nam và người nữ nguyên thủy đều sa ngã phạm tội (St 3). Họ đã đánh mất ân sủng mà Thiên Chúa đã tạo ra họ. Sự mất mát này đã lấy đi tính hiệu quả của sự kết hợp ban đầu của họ. Nó không còn truyền lại ân sủng của Thiên Chúa nữa (GLCG 416).

Nhưng Thiên Chúa đã không từ bỏ loài người. Ngài đã nghĩ ra một kế hoạch cứu rỗi. Ngài đã chọn một dân tộc, Israel, để dần dần tỏ lộ chính Ngài qua lịch sử cho dân Israel và cả nhân loại. Ngài đã chọn Israel để sinh ra một Đấng Cứu Thế mà Ngài đã hứa (St 3,15): là Đức Giêsu Kitô.

Giờ đây, qua các Ngôn sứ, Thiên Chúa đã mặc khải cho Dân Ngài rằng Ngài ghét việc thờ ngẫu tượng và mong muốn sự cam kết trung thành tuyệt đối với chính Ngài và các điều răn yêu thương của Ngài. Tất nhiên, thờ ngẫu tượng là một tội phạm đến giới răn thứ nhất, đó là yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự (Đnl 5: 7-10 và 6: 5).

Nhưng điều thú vị là, dưới sự linh hứng của Thiên Chúa, các Ngôn sứ đã sử dụng hình ảnh ngoại tình để nói cho dân chúng biết việc thờ ngẫu tượng kinh khủng như thế nào. Thực ra, các Ngôn sứ (đặc biệt là Êsaia 54 và 62, Giêrêmia 2-3, Êdêkiên 16 và 23, và Hôsêa 1-3) đã so sánh mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Israel với cuộc hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Vì vậy, dùng hình ảnh tội ngoại tình để diễn tả tội thờ ngẫu tượng rất có ý nghĩa đối với dân Israel. Hơn nữa, nó dọn đường để cho Chúa Giêsu bày tỏ tình yêu của Người đối với Hội Thánh (và nhân loại) với tư cách là hiền thê của Người (TOB 95).

Vì vậy, khi Chúa Giêsu đến thế gian và thiết lập các bí tích, Ngài đã phục hồi bí tích nguyên thủy bằng cách nâng hôn nhân Kitô giáo lên phẩm giá của một bí tích. Bằng cách này, hôn nhân Kitô giáo một lần nữa sẽ truyền lại ân sủng của Thiên Chúa (GLCG 1601).

Hôn nhân là bí tích nguyên thủy có nghĩa gì?

Thần học Thân Xác dạy chúng ta rằng Bí tích Hôn phối là khuôn mẫu ban đầu cho mọi bí tích và cũng mặc khải cho chúng ta cách thức mà Thiên Chúa cứu chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô (TOB 99). Ân sủng đặc biệt của hôn nhân Kitô giáo là làm cho tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh, hiền thê của Người, được hiện diện. Tất cả các bí tích khác cũng mang lại sự kêt hợp này giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Nhưng trong Bí tích Hôn phối, sự kết hợp này được thấy rõ nhất. Hơn nữa, như một người nam trao toàn thể con người của mình (gồm cả thân xác) cho vợ, thì Đức Kitô cũng đã ban toàn thể con người của Người (kể cả thân thể của Ngườii) để cứu và kết hợp chính mình cách thiêng liêng cho hiền thê của Người là Hội Thánh, và cuối cùng là cho toàn thể nhân loại (GLCG 1616- 167).

Tuy nhiên, chỉ trong Bí tích Thánh Thể, sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người mới thực sự đạt được một cách bản thể. Bởi vì chỉ trong Bí tích này mà các dấu chỉ (bánh và rượu), qua lời truyền phép của linh mục, không còn là dấu chỉ mà thực sự trở thành thực tại mà chúng biểu thị: Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Chỉ trong Bí tích này, Đức Kitô mới hiện diện cách bản thể. Đức Kitô hiện diện theo nghĩa đầy đủ nhất: Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính (xem GLCG 1374). Do đó, giờ đây việc kết hợp cá nhân của chúng ta với Đức Kitô qua việc Rước Lễ cũng thực sự kết hợp chúng ta cách thiêng liêng với anh chị em của chúng ta trong Đức Kitô, nhờ đó xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, là Hội Thánh của Người (GLCG 1396). Đây là lý do tại sao chúng ta cũng chỉ ra rằng hôn nhân giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người là hôn nhân thực sự, mà dấu chỉ hữu hiệu là Bí tích Hôn phối Kitô giáo.

Bí tích Thánh Thể cũng là “một hy lễ vì nó tái trình bày (hiện tại hóa) hy tế thập giá” (GLCG 1366). Do đó, Bí tích Thánh Thể thực sự hiện tại hóa hy lễ mà Đức Kitô trao hiến thân thể của Người cho hiền thê của Người là Hội Thánh (thân thể của Người được tạo thành bởi các tín hữu chúng ta). Một lần nữa, đó là lý do tại sao Bí tích Hôn phối cũng là một dấu chỉ của tình yêu hy sinh thực sự hiện tại của Đức Kitô dành cho Hội Thánh của Ngài (GLCG 1368).

Vì tất cả những lý do trên, Bí tích Hôn phối, cũng như tất cả các bí tích khác, có nguồn mạch, trọng tâm, và đỉnh cao là Bí tích Thánh Thể (GLCG 1407). Cuối cùng, bữa tiệc Thánh Thể trên trần thế tiền dự Bữa Tiệc Vĩnh hằng của hôn lễ vĩnh cửu của Đức Kitô và Hội thánh của Người trên Thiên đàng (KH 19: 7-9, GLCG 1402 và 1602).

129 bài được tổ chức như thế nào?

Đây là một câu hỏi rất hay vì nó đưa ra các chủ đề phụ riêng rẽ mà 129 bài được chia thành. Và một khi đã xem xét sự sắp xếp của các chủ đề phụ này, chúng ta nhận ra rằng tất cả đều có ý nghĩa như thế nào và tạo thành một tổng thể thống nhất ra sao.

Thần Học Thân Xác đã được sắp xếp thành 6 chu kỳ như được trình bày dưới đây. Các bài giáo lý tương ứng được biểu thị bằng dấu ngoặc vuông:

  1. Thủa Ban Đầu: Sự Kết Hợp Nguyên Thủy của Người Nam và Người Nữ [1-23].
  2. Sự trong sạch của Tâm Hồn [24-63].
  3. Sự Phục Sinh của Thân Xác [64-72].
  4. Sự Khiết tịnh và Độc thân của Kitô hữu vì Nước Thiên Chúa [73-86].
  5. Bí tích Hôn phối [87-107].
  6. Tình yêu và việc Sinh sản [114-129]

Những thay đổi văn hóa nào đã gợi hứng cho Thần học Thân Xác?

Để hiểu được ý nghĩa cốt yếu của 6 chu kỳ như một tổng thể thống nhất, trước hết chúng ta phải nhận ra điều gì cuối cùng đã thúc đẩy Thánh Gioan Phaolô II viết Thần học Thân Xác. Đức Thánh Cha rất quan tâm đến những người bất đồng ý kiến, ngay cả trong chính Hội Thánh, chống lại Thông điệp Humanae vitae (HV). Thông điệp này được viết bởi Đức Thánh Cha Phaolô VI và được ban hành năm 1968, ngay giữa “cuộc cách mạng tình dục”. Cuộc cách mạng tình dục đã được khơi mào bởi sự xuất hiện của thuốc ngừa thai trên thị trường Hoa Kỳ vào thập niên 1960, và sau đó là ở những nơi khác trên thế giới.

Việc sử dụng thuốc ngừa thai, và cuối cùng là các biện pháp ngừa thai khác, đã thay đổi tâm lý chung về tình dục và hôn nhân. Người ta bắt đầu tin rằng có thể quan hệ tình dục mà không phải có con. Do sự tách biệt giữa tình dục và sinh sản, họ dần dần bắt đầu tin rằng quan hệ tình dục mà không kết hôn cũng chẳng sao. Hậu quả của tâm lý này, đã được Đức Phaolô VI tiên đoán trong HV 17, đã làm phương hại đến hôn nhân và gia đình: ly dị gia tăng, tình dục vô luân gia tăng, phá thai trở thành hợp pháp và cũng gia tăng, các chính phủ, như Trung Quốc, bắt đầu áp đặt việc phá thai, ngừa thai và triệt sản. trên dân của họ. Liên Hiệp Quốc, IPPF (International Planned Parenthood Federation) và các tổ chức quốc tế khác bắt đầu thực hiện việc kiểm soát dân số bằng các biện pháp tương tự đối với các nước đang phát triển.

Trong HV, Đức Phaolô VI đã lặp lại bằng ngôn ngữ đơn giản giáo huấn 2.000 năm của Hội Thánh về việc ngừa thai, triệt sản và phá thai. Ngài cũng giải thích giáo huấn của Hội Thánh về vẻ đẹp của hôn nhân và tình yêu vợ chồng, cũng như phẩm giá và bổn phận tuyệt vời của vợ chồng là truyền sự sống con người và giáo dục con cái của họ trong tình yêu của Thiên Chúa.

Thánh Gioan Phaolô II đã ý thức rằng ngài cần phải bảo vệ HV khỏi các cuộc tấn công đến từ bên trong và bên ngoài Hội Thánh. Vì HV là một Thông điệp ngắn, nên Thánh Gioan Phaolô II đã sử dụng Thần học Thân Xác để cho thấy những giáo huấn trong HV có nền tảng sâu xa như thế nào trong Thánh Kinh, những giáo huấn trong quá khứ của Hội Thánh trong suốt dòng lịch sử, và một cái nhìn đúng đắn về con người. – đặc biệt, về người nam và người nữ được kết hợp trong hôn nhân.

Thánh Gioan Phaolô II bày tỏ nhãn quan Công giáo về tình yêu, phái tính và ơn gọi

Dưới ánh sáng của viễn tượng này, Đức Thánh Cha đã khai triển một cách dài hạn các chủ đề được trình bày ở trên trong phần phác thảo của các chu kỳ. Trong chu kỳ thứ nhất, ngài suy niệmm về những gì Sách Sáng Thế nói về sự khởi đầu của sự kết hợp nguyên thủy của người nam và người nữ trong hôn nhân. Ngài cho thấy cách Chúa Giêsu muốn khôi phục sự kết hợp ban đầu của hôn nhân mà không ai có thể phân ly (Matthêu 19: 3-9). Trong chu kỳ thứ hai và thứ ba, ngài đã giải thích sự hiểu biết đúng đắn về con người (nhân chủng học) như được Thiên Chúa mặc khải. Ngài đã suy niệm về cả chiều kích tâm linh của con người (chu kỳ 2) và chiều kích vật chất của con người (chu kỳ 3). Trong cả hai trường hợp, ngài đã nêu ra loại người mà Chúa Giêsu muốn chúng ta trở thành. Trong các chu kỳ 4 và 5, Đức Giáo Hoàng đã trình bày hai ơn gọi mà Thiên Chúa mời gọi các Kitô hữu để sống tình yêu đích thực, đó là một món quà tự do hiến thân cho người khác, là sự hiến thân luôn ban sự sống, thể lý hay tinh thần: đó là ơn gọi độc thân và hôn nhân.

Năm chu kỳ này đặt nền tảng Thánh Kinh, thần học và nhân học cho chu kỳ 6. Trong chu kỳ cuối cùng này, Thánh Gioan Phaolô II đã trực tiếp đề cập đến giáo huấn thiết yếu của HV, đó là, không thể tách rời tình yêu ra khỏi việc mở lòng ra trong bất kỳ hành vi vợ chồng nào. Ngài đã tiếp tục phát triển một quan điểm rất tích cực và đẹp đẽ về phái tính vủa con người, tình yêu vợ chồng và sự sinh sản.

Hơn nữa, như chúng tôi đã gợi ý ở trên, ngài đã đưa giáo huấn của mình về hôn nhân và gia đình vào bối cảnh tình yêu của Đức Kitô và ơn cứu rỗi của Hội Thánh và nhân loại của Người. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nói rằng Thần học Thân Xác không chỉ là một giáo huấn về luân lý và linh đạo hôn nhân, mà còn là một cách nhìn hoàn toàn mới về toàn bộ nội dung của giáo huấn Công giáo. Các chủ đề như Thiên Chúa, Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu Kitô, Đức Mẹ, Hội Thánh, các Bí tích, và vâng, luân lý phái tính được chiêm niệm một lần nữa qua lăng kính của Thần học Thân Xác. Do đó, Thần Học Thân Xác không những chỉ là một tập hợp các giáo huấn, mà còn là một cách suy nghĩ mới qua những giáo lý đó và cố gắng hết sức của chúng ta, với ân sủng của Thiên Chúa, để đem chúng ra thực hành.