Current Video
Xin đọc phần tiếng Việt Nam sau phần tiếng Anh.
In this lesson, we will discuss The Sacrament of Marriage
Please read the above links and the following videos and answer the following questions before you come to this class.
- What is a sacrament?
- What is the matter in the sacrament of marriage?
- What is the form of the sacrament of marriage?
- Who are the ministers of the sacrament of marriage?
- What do St. Paul mean when he says that “Wife has to submit to her husband?”
Làm ơn coi video và đọc bài dưới đây củng trả lời 5 câu hỏi sau:
- Bí tích là gì?
- Chất thể (matter) trong bí tích hôn phối là gì?
- Mô thức (form) trong bí tích hôn phối là gì?
- Ai là thừa tác viên của bí tích hôn phối là gì??
- Thánh Phaolô có ý dạy gì khi nói: “Vợ phải phục tùng chồng?”
Trong bài trước, chúng ta đã suy niệm về chủ đề đồng trinh và độc thân của Kitô hữu vì Nước Thiên Chúa như được giải thích trong chu kỳ thứ tư của các bài giáo lý (73-86) của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Thần học Thân xác. Trong bài này, chúng ta tiếp tục suy niệm của chúng ta, sang chu kỳ thứ năm của các bài giáo lý của Đức Thánh Cha (87-113), trong đó đề cập đến Bí tích Hôn phối.
Các chủ đề phụ mà chúng ta sẽ bàn đến trong bài này là:
- Tầm quan trọng của Thư Êphêxô thảo luận về Bí tích Hôn phối
- Liệu đoạn văn này có làm giảm giá trị phụ nữ qua việc họ phải phục tùng chồng không.
- Điểm chính của đoạn văn này từ Thư Êphêxô
- Mối quan hệ giữa Bí tích Rửa tội và Hôn phối
- Làm sao chúng ta biết rằng Hôn phối thực sự là một bí tích
- Những giáo huấn khác của Thánh Gioan Phaolô II về Hôn nhân
1. Bí tích Hôn phối trong Thư Êphêxô
Như trong các chu kỳ trước của cuộc thảo luận về Thần học Thân xác, Thánh Gioan Phaolô II đã suy niệm về các khía cạnh khác nhau của một đoạn Thánh Kinh quan trọng. Trong trường hợp này, đoạn chính là Êphêxô 5: 21-33:
21Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. 22Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, 23vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. 24Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.
25Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; 26như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, 27để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. 28Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. 29Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, 30vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. 31Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. 32Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. 33Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.

Để hiểu và đánh giá cao đoạn Thánh Kinh này, chúng ta phải xem bối cảnh của nó trong Thư, với dàn bài như sau (các chương và câu được ghi trong ngoặc đơn):
- Kế hoạch cứu rỗi đời đời của Thiên Chúa trong Đức Kitô (1-3)
- Hướng dẫn luân lý cho Hội Thánh (4-5)
- Bí tích Hôn phối (5: 21-33)
- Hướng dẫn luân lý cho gia đình (6: 1-9)
- Lời mời gọi chiến đấu tâm linh (6: 10-20)
- Tạm biệt (6: 21-24)
Đoạn Thánh Kinh mà chúng ta đang phân tích “nằm giữa” việc loan báo kế hoạch cứu rỗi vĩnh cửu của Thiên Chúa (phần 1), lẽ ra phải được sống trước hết trong Hội Thánh (phần 2), và sau đó là trong gia đình, tức là một phần của Hội Thánh. (phần 4), nhưng có nguồn gốc từ Hôn nhân Kitô giáo (phần 3). Sau đó, Bí tích Hôn phối được đặt trong bối cảnh nhiệm vụ luân lý của Hội Thánh là đáp ứng kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong Đức Kitô, một kế hoạch đã được Thiên Chúa thiết kế nhưng ẩn giấu trong Người “trước khi tạo thành vũ trụ” (1: 4), nhưng điều đó đã được bày tỏ trong Đức Kitô “như một kế hoạch cho thời kỳ viên mãn, để quy tụ mọi sự trong Người, mọi loài trên trời và dưới đất” (1:10).

Vì vậy, chúng ta thấy rằng đoạn Thánh Kinh nói về Bí tích Hôn phối có một vị trí rất quan trọng trong Thư. Thánh Phaolô không chỉ nói với chúng ta rằng bí tích này rất quan trọng, mà còn rằng các cặp vợ chồng phải thực hiện kế hoạch cứu rỗi vĩnh cửu của Thiên Chúa trong đời sống vợ chồng của họ trước, và sau đó trong gia đình mà họ gầy dựng qua việc sinh sản. Kế hoạch cứu rỗi đời đời của Thiên Chúa được thực hiện trong lịch sử qua Hội Thánh của Người, trong Hội Thánh qua hôn nhân, và nhờ hôn nhân, trong gia đình. Và, tất nhiên, khi Hội thánh hoàn thành kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong Đức Kitô, thì toàn thể thế giới cũng nằm trong kế hoạch này vì nó được kết nạp vào Hội thánh qua việc Phúc âm hóa, hoán cải và Phép Rửa. Bằng cách hoàn thành kế hoạch mà Thiên Chúa đã hình thành trong Trái tim Ngài từ muôn thuở, chúng ta đang phong phú hóa thiết kế tuyệt mỹ của Ngài trong lịch sử nhân loại, trong cuộc sống hàng ngày của đời sống Kitô hữu trong hôn nhân và gia đình của mình!
2. Câu “Người làm vợ hãy phục tùng của chồng” có làm mất giá trị phụ nữ không?
Không bao giờ! Nếu đọc kỹ, chúng ta thấy câu 25 nói rằng những người làm chồng phải yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Ồi! Loại tình yêu đó sẽ không bao giờ là tình yêu hạ giá hay thiếu tôn trọng. Ngược lại, những người chồng phải yêu thương vợ mình bằng cách hiến mạng sống cho vợ. Việc hiến mạng sống này của họ được sống trong việc phục vụ vợ mình. Việc phục vụ này có ba cách: bảo vệ, nuôi nấng và hướng dẫn vợ con.
Trong trường hợp Thánh Giuse chẳng hạn, tuy ngài không thánh thiện hơn Đức Mẹ Maria, và chắc chắn là không thánh thiện bằng Chúa Giêsu! Tuy nhiên, Thiên Chúa đã chọn ngài để đứng đầu Thánh Gia. Điều này được chứng minh rõ ràng bởi sự thể là Thiên Chúa đã sai một thiên sứ đến cùng Thánh Giuse trong một giấc mộng (không phải cùng Đức Mẹ hay Chúa Giêsu) vào hai dịp: dịp thứ nhất là để bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu khỏi ý định giết người của vua Hêrôđê bằng cách bò trốn sang Ai Cập (Mathêu 2:13), và vài năm sau khi Hêrôđê đã chết, để trở về đất Israel (Mathêu 2:19). Khi Thánh Giuse nghe nói rằng Archelaô tàn ác, con vua Hêrôđê, đang trị vì xứ Giuđêa, và sợ về đó (Mathêu 2: 19-20), ngài đã được cảnh báo trong một giấc mộng — bản văn thánh không cho biết đó là một thiên sứ hoặc chính Thiên Chúa — rằng đừng ở Giuđêa mà đi về miền Galilêa (Mathêu 2:22).
Chúng ta có thể chắc chắn rằng Thánh Giuse, vị thánh vĩ đại nhất trong số các thánh sau Đức Mẹ Maria, là người hướng dẫn đầy yêu thương, dịu hiền và nhân hậu, đồng thời là người bảo vệ can trường của Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu, và cũng là người phục vụ có trách nhiệm qua việc làm thợ mộc chăm chỉ của ngài. Tin Mừng Thánh Luca câu 2:51 cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu “đã vâng phục các ngài” (Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse). Bạn có thể tưởng tượng rằng Chúa Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người, và Mẹ Người chịu thai mà không mắc vương tội lỗi, đã vâng lời một người chịu thai trong tội lỗi và chắc chắn không phải là Thiên Chúa không? Ngày nay, chúng ta cần những người chồng và những người cha như Thánh Giuse, là Đấng trong sạch cả về tâm hồn lẫn thể xác, và vâng phục Thiên Chúa trong mọi sự.

Cuối cùng, xin lưu ý rằng Êphêxô 5:21 bắt đầu đoạn này bằng cách nói rằng vợ chồng phải “phục tùng nhau vì kính sợ Đức Kitô”. Sự kính sợ này đối với Đức Kitô cũng giống như ơn kính sợ Chúa (điều này thực sự có nghĩa là một sự tôn kính tuyệt đối đối với Người). Đây là ơn thứ bảy của Chúa Thánh Thần theo Isaia 11: 1-2. Vì vậy, trách nhiệm làm đầu của người chồng phải được thực hiện trong bối cảnh tôn kính vợ, tương tự như lòng kính sợ Chúa. Điều này có nghĩa là các người chồng phải tôn trọng vợ mình và công nhận sự khôn ngoan cũng như tài năng mà Thiên Chúa ban cho vợ, như Cựu Ước mô tả trong Châm-ngôn 31: 10-31.
10Tìm đâu ra một người vợ đảm đang?
Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.
11Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,
chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.
12Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc
chứ không gây tai hoạ cho chồng….
3. Điểm chính của Đoạn Thánh Kinh này từ Êphêxô
Điểm chính của đoạn Thánh Kinh này là mối quan hệ vợ chồng đã được Thiên Chúa thiết kế từ muôn thuở để trở thành hình ảnh của mối quan hệ giữa Đức Kitô và Hội thánh. Mối quan hệ hôn nhân này phải tỏ lộ và làm cho kế hoạch của Thiên Chúa được hiện diện. Vì vậy, chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người dưới ánh sáng của sự kết hợp giữa vợ chồng trong hôn nhân Kitô giáo. Còn chúng ta, chúng ta hiểu rõ hơn về sự kết hợp giữa vợ chồng trong hôn nhân Kitô giáo dưới ánh sáng của sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội thánh Người. Hai mối quan hệ soi sáng lẫn nhau.
Một so sánh khác được sử dụng để giải thích mối quan hệ hôn nhân là mối quan hệ của Đức Kitô như Đầu và Hội Thánh như Thân thể của Người, mà vai trò làm đầu của người chồng và sự tôn trọng mà người vợ dành cho người chồng (xem câu 33) cũng phải phản ảnh.
Tuy nhiên, điểm chính của tất cả những điều ấy là ân sủng đặc biệt của bí tích Hôn phối là làm hiện diện sự kết hợp hôn nhân giữa Đức Kitô là Đầu và Thân thể của Người, là Hội Thánh.
Lưu ý rằng chính bằng cách hiến thân cho Hội Thánh mà Đức Kitô trở thành phu quân của hiền thê Người là Hội Thánh. Câu 25 nói: “Hỡi những người làm chồng, hãy yêu thương vợ mình, như Đức Kitô đã yêu Hội Thánh và hiến thân vì Hội Thánh”. Chính trên “cái giường” của thập giá, mà Đức Kitô đã hoàn thành cuộc hôn nhân với Hội Thánh của Người. Các Giáo Phụ của Hội Thánh đã dạy rằng Hội Thánh phát ra từ cạnh sườn bị thương của Chúa Giêsu “đang ngủ”, như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của Ađam đang ngủ. Nhờ là Đấng Cứu Chuộc, Đức Kitô trở thành Phu quân của Thân thể Người, là Hội thánh.
Tất cả những điều trên ngụ ý rằng Đức Kitô yêu chúng ta (Hội Thánh của Người) bằng một tình yêu phu thê. Tình yêu của Thiên Chúa chắc chắn là tình yêu của một người Cha, nhưng bởi sự ban cho của Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta tiếp nhận Đức Kitô như người chồng của linh hồn mình. Do đó, Chúa Giêsu là Chồng của cả Hội Thánh Người nói chung và của mỗi người chúng ta nói riêng, vì mỗi người chúng ta là chi thể của Thân Thể của Chúa Giêsu, và chính Chúa Giêsu Kitô là Đầu của Thân Thể Ngườii.
Một ngụ ý khác của thư Êphêxô là thực thể rằng chúng ta có thể thấy rõ ràng Thần học Thân xác đang hoạt động ở đây. Chính nhờ thân xác của Đức Kitô mà chúng ta được cứu chuộc. Và nhờ sự cứu chuộc này, Đức Kitô làm cho chúng ta trở thành những phần tử của Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh.
Việc so sánh thân thể quả thực rất mạnh mẽ và là nền tảng, không những chỉ với Bí tích Hôn phối, mà còn với các bí tích khác. Điều này đặc biệt đúng với Bí tích Thánh Thể, nhờ đó chúng ta kết hợp với Mình và Máu Đức Kitô về thể lý và kết hợp với nhau về tinh thần, nhờ đó, làm nên và tái tạo Hội Thánh qua mỗi cuộc cử hành Thánh Lễ. Vì thế, chúng ta có thể nói, như giáo lý của Hội Thánh dạy, rằng Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh, và Hội Thánh, qua các linh mục và giám mục của mình, hành động thay cho Đức Kitô là Đầu, làm nên Bí tích Thánh Thể.
4. Hôn nhân, Phép Rửa và Bí tích Thánh Thể
Đoạn văn từ Êphêxô không đề cập đến Bí tích Rửa tội hay Bí tích Thánh Thể. Chẳng phải nhờ Phép Phép Rửa mà chúng ta được kết hợp vào Đức Kitô, do đó trở thành chi thể của Thân thể Người sao? Và chẳng phải nhờ Bí tích Thánh Thể mà chúng ta được kết hợp với Đức Kitô và được nuôi dưỡng trên đường lên Thiên đàng sao?
Chắc chắn là như vậy. Nhưng thực ra, thư Êphêxô ám chỉ đến cả Bí tích Rửa tội lẫn Bí tích Thánh Thể. Câu 5:26 nói rằng Đức Kitô thanh tẩy Hội thánh của Người “bằng nước và lời hằng sống”. Nước rửa này và lời này là thành phần thiết yếu của Bí tích Rửa tội, trong đó nước được đổ lên người Kitô hữu mới kèm theo lời của người làm Phép Rửa, “Tôi rửa … nhân danh Cha và Con, và của Thánh Thần.”
Hơn nữa, sự thanh tẩy này ám chỉ thực tại là qua Phép Rửa, chúng ta được tẩy sạch tội nguyên tổ (và ngay cả tội cá nhân trong trường người lớn). Câu 27 chứng thực cho sự thanh tẩy này: “để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”.
Câu 28 và 29 ám chỉ Bí tích Thánh Thể: “28Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. 29 Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh”. Đức Kitô yêu thương nuôi dưỡng Hội Thánh qua Bí tích Thánh Thể, nghĩa là bằng cách ban cho chúng ta chính Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính của Người khi Rước lễ.
5. Hôn nhân như một Bí tích
Chúng ta đã nói rằng ân sủng cụ thể của Bí tích Hôn phối là làm hiện diện sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Dấu chỉ của Hôn nhân bao gồm hai yếu tố: lời thề hứa mà chú rể và cô dâu trao đổi với nhau trong lễ cưới của họ và hành vi vợ chồng để hoàn tất cuộc hôn nhân của họ.
Hành động vợ chồng đó và các hành vi của vợ chồng trong tương lai phải luôn chuẩn phê những lời trao đổi trong lễ cưới. Nói cách khác, sự kết hợp thân xác giữa vợ và chồng phải diễn tả chân lý nội tại của hành vi đó, là dễn tả lời thề nguyện yêu nhau suốt đời, cùng sinh sản và giáo dục các chi thể mới của Nhiệm thể Đức Kitô. Chỉ bằng cách này, ngôn ngữ cử chỉ của vợ và chồng mới thực sự diễn tả chân lý về ý nghĩa Phối ngẫu của Thân xác: khả năng mà Thiên Chúa đã ghi khắc trong thân xác con người để diễn tả tình yêu đích thực luôn mở ra cho sự sống.
Trong đoạn Thánh Kinh từ thư Êphêxô, văn bản cơ bản trong Cựu Ước liên quan đến hôn nhân được trích dẫn ở câu 31: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”. (Sáng thế 2: 24).
Nhưng câu quan trọng thực sự là câu 32: “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh”. Hãy lưu ý rằng Thánh Phaolô không nói “bí tích” mà nói “mầu nhiệm”. Cũng tương tự như vậy, chúng ta đã thấy ở trên rằng kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho chúng ta đã “được giấu kín trong Người trước khi tạo thành vũ trụ” (1: 4). Nói cách khác, đó là một điều mầu nhiệm mà sau này Thiên Chúa đã mặc khải qua Con Ngài trong thời viên mãn.
Qua một tiến trình suy niệm lâu dài, Hội Thánh đã hiểu ra mối liên hệ sâu xa giữa mầu nhiệm và bí tích. Hội Thánh định nghĩa các bí tích là “những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng do Đức Kitô thiết lập và ủy thác cho Hội Thánh, nhờ đó sự sống thần linh [ân sủng] được ban cho chúng ta” (GLCG 1131). Qua các bí tích và phụng vụ, Hội Thánh hiện tại hóa hành động cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử. Thí dụ lớn nhất là Bí tích Thánh Thể, được hiện tại hóa cho chúng ta ở đây và bây giờ là hành động cứu độ duy nhất và dứt khoát của Thiên Chúa, đó là hy tế của Đức Kitô trên Thập giá. Bí tích Thánh Thể không lặp lại hành động cứu độ đã diễn ra một lần và mãi mãi. Nhưng nó làm cho hành động cứu rỗi ấy hiện diện một cách bí tích, nghĩa là qua các dấu chỉ.

Giờ đây, khi Thánh Phaolô đề cập đến “mầu nhiệm cao cả”, thì ngài đang nghĩ đến phần đầu của Thư gửi tín hữu Êphêxô, nơi ngài đưa ra kế hoạch cứu độ cao cả của Thiên Chúa, một kế hoạch ban đầu được giấu kín (một mầu nhiệm) nhưng sau đó được mặc khải trong Đức Kitô. Các Bí tích của Hội Thánh, và đặc biệt là Bí tích Hôn phối, hiện tại hóa mầu nhiệm này cho chúng ta.
Hơn nữa, lưu ý rằng Thánh Phaolô thêm cụm từ chính này vào để nói đến mầu nhiệm: “Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.” (câu 32). Nói cách khác, hôn nhân thực sự, giao ước thực sự là giao ước giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người (và nói chung là toàn thể nhân loại). Các cuộc hôn nhân của chúng ta cũng là hôn nhân thật, nhưng chúng phải phản ảnh và làm hiện diện cuộc hôn nhân giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Người.
Do đó, mặc dù Thánh Phaolô không dùng từ “bí tích”, nhưng ý nghĩa từ “mầu nhiệm” của ngài thực ra cũng đồng nghĩa với từ này và do đó tạo nên tính bí tích của hôn nhân Kitô giáo. Một lần nữa, tính bí tích của hôn nhân Kitô giáo này dựa trên sự thật là sự kết hợp giữa hai vợ chồng cùng là Công giáo được Thiên Chúa thiết kế để bày tỏ và hiện tại hóa sự kết hợp của Đức Kitô và Hội thánh của Người. Và sự kết hợp này giữa Đức Kitô và Hội thánh là cao điểm trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, vì sự cứu rỗi không gì khác hơn là được giải thoát khỏi tội lỗi để kết hợp chúng ta với Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Để một bí tích được thành sự, phải có thừa tác viên hợp pháp, phải sử dụng đúng chất thể và mô thức, đồng thời ý định phải phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh và ý của Đức Kitô.
Chất thể của bí tích hôn phối là sự ưng thuận trao tặng chính mình cho nhau và chấp nhận nhau. Mô thức là lời thệ ước hôn nhân: “Tôi (Tên) nhận em/anh (Tên) làm vợ/chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em/anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em/anh mọi ngày suốt đời anh/em”.
Trong bí tích hôn phối, chính người nam và người nữ là thừa tác viên của bí tich khi họ ban bí tích cho nhau bằng việc trao đổi lời thệ ước trước mặt nhân chứng của Hội Thánh là một linh mục hay phó tế chủ sự nghi thức hôn phối.
6. Những giáo huấn khác của Thánh Gioan Phaolô II về Hôn nhân
Trong các bài giáo lý 109-111, Thánh Gioan Phaolô II đã suy niệm về vẻ đẹp của tình yêu vợ chồng như được bày tỏ trong sách Nhã ca của vua Solomon trong Cựu ước. Cuốn sách này là một câu chuyện ngụ ngôn về tình yêu giữa Đức Chúa và Israel, nhưng nó cũng là một mô tả thực tế về tình yêu vợ chồng trong thời kỳ vô tội, tức là trước khi có tội nguyên tổ. Như vậy, đây là một sự trình bày duy tâm về tình yêu vợ chồng giữa một người nam và một người nữ.
Tuy nhiên, Nhã ca của Solômôn, dù có lý tưởng thế nào đi nữa, cũng không thể miêu tả một cách hoàn hảo tình yêu vợ chồng. Câu 6 của chương 8 (chương cuối cùng) nói rằng “tình yêu mạnh như sự chết.” Nó không nói rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Vì vậy, cuốn sách này vẫn còn bỏ ngỏ, bỏ ngỏ để hoàn thiện hơn nữa.
Chúng ta sẽ phải đợi cho đến khi Đức Kitô đến để tình yêu vợ chồng được viên mãn và trọn vẹn. Tất nhiên, tình yêu vợ chồng này là tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh của Người. Đức Kitô yêu Hội Thánh của Người bằng một tình yêu trọn vẹn. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết bằng sự Phục sinh của Người, do đó chứng tỏ rằng Tình yêu của Thiên Chúa thực sự mạnh hơn sự chết. Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrinthô (13: 8, 13) nhắc lại sự ứng nghiệm này bằng cách nói rằng “Đức ái không bao giờ tàn” (câu 8) và “đức tin, đức cậy, đức ái, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức ái”. (câu 13).
Tình yêu giữa các cặp vợ chồng theo Kitô giáo cũng phải là một tình yêu mạnh hơn sự chết, một tình yêu lớn lên cho đến chết, và trường tồn thậm chí vượt qua cái chết vào Sự Sống Đời Đời.

Thánh Gioan Phaolô II kết thúc chu kỳ này bằng cách suy ngẫm về câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp được mô tả trong Sách Tobia từ Cựu Ước. Nhưng câu chuyện này mở ra sau khi nguyên tội. Vì vậy, tình yêu vợ chồng giữa Tobia (con ông Tobit) và Xara không chỉ phải mạnh hơn sự chết mà còn phải thực sự tham gia vào cuộc chiến tâm linh chống lại các quyển lực của sự dữ, bao gồm cả quyền lực ma quỷ.
Xara đã mất bảy người chồng tương lai trước đó của mình ngay trong đêm tân hôn của họ vì quỷ giết người Asmodêô (xem 3: 7-8). Cô bị những người giúp việc của cha cô vu cho tội giết chồng và làm cô đau buồn đến nỗi cô nghĩ đến việc tự tử. Nhưng thay vào đó, Xara quyết định phó thác cho Thiên Chúa (xin xem 3: 10-15).
Sau đó Tobia đã đến, cùng với Tổng lãnh thiên thần Raphael cải trang thành một người bạn đồng hành được thuê. Thánh Raphael (tên có nghĩa là “Đức Chúa chữa lành”) đã ban cho Tobia một con cá mầu nhiệm mà người thanh niên sẽ khiến Quỷ chạy trốn sang Ai Cập, nơi Thánh Raphael đã trói nó (xem 8: 1-3). Sau đó Tobias và Xara cùng cầu nguyện, cầu xin Chúa bảo vệ họ; Chúa đã bảo vệ họ, và họ đã có thể hoàn tất cuộc hôn nhân của họ (xin xem 8: 4-19).
Cuộc hôn nhân của Tobias và Xara (Jan Steen)
Vì vậy, trong trường hợp này, Lời Chúa dạy chúng ta rằng tình yêu vợ chồng không những phải dịu dàng và bền chặt mà còn phải sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng sự dữ tinh thần qua cầu nguyện và một đời sống thánh thiện.
Lời kết
Với sự suy niệm thực tế và xinh đẹp này về câu chuyện tình yêu của Tobia và Xara, Thánh Gioan Phaolô II đã kết thúc bài dạy giáo lý của mình về Bí tích Hôn nhân và chuẩn bị cách suy niệm về món quà lớn nhất của Thiên Chúa dành cho các cặp vợ chồng: là món quà con cái. Do đó, chu kỳ tiếp theo của loạt bài dạy giáo lý sẽ tiếp tục suy niệm về tình yêu vợ chồng như bản chất của hôn nhân, nhưng là một tình yêu luôn luôn mở ra cho sự sống, là món quà lớn nhất. Đó là lý do tại sao bài tiếp theo của chúng tôi sẽ có tựa đề “Tình yêu và khả năng sinh sản”.