Genesis 6-11 Commentary – Chú giải Sáng Thế 6-11

Từ Lời Chúa cho Mọi Người

From Christian Community Bible

Sáng Thế 6

Genesis 6

* 6,1 Ở đây chúng ta có một niềm tin bình dân. Các con trai Thiên Chúa thuở đầu là các thần, người ta đã biến họ thành những tôi tớ thiên giới của Thiên Chúa. Từ những trang đầu của Sách Thánh đã xuất hiện truyền thống nói về việc thử thách các vị thiên giới vào thuở tạo thiên lập địa, mà nhiều vị trong số họ sa ngã. Sau này, huyền thoại về các kẻ khổng lồ không được nhắc tới nữa, nhưng người ta lại nói tới các thiên thần sa đoạ (Mt 25,41 ; Kh 12,4 ; 12,7).

• 6.1 Here we have a popular belief of the Israelites. In the Hebrew language, sons of God means “divine beings.” At the beginning they were gods, but in Israel they became heavenly servants of God. In these first pages of the Bible we find the tradition of a testing of the celestial beings at the beginning of the world, with the fall of many among them (Mt 25:41; Rev 12:4; 12:7).

Ngày nay chúng ta tin rằng nhân loại có tiến bộ, các dân thời đầu thì, ngược lại, họ tưởng rằng các tiền bối của họ khoẻ mạnh và tốt hơn họ. Chính vì thế họ thấy rằng các ngài có khả năng muốn đua tranh với Thiên Chúa, trong khi mà tội ngạo mạn này xem ra là một kết quả của văn hoá và tiến bộ kỹ thuật. Bài học là rõ : siêu nhân dù tưởng mình bá chủ cả trời, thì vẫn không biết được đường lối của Thiên Chúa.

We must remember that, while we believe that humanity improves and progresses, ancient people thought that their ancestors were stronger and better formed than themselves. When they spoke of the pride of a person who intends to compete with God, they thought that it had been their ancestors’ sin. To us this arrogance seems more characteristic of our contemporaries, who are conceited over technological development. The lesson, however, is clear: a superman – even if he believes himself to be the ruler of heaven – does not know the ways of God.

* 6,5 Thiên Chúa không để mình bị lèo lái bởi những ảo tưởng hoặc sự bi quan như chúng ta, nhưng Người cũng chẳng dửng dưng trước sự gian ác của con người.

Người làm điều gì cần để bảo đảm tương lai của việc tạo thành, cho dù có phải dùng tới những phương tiện quyết liệt. Sự thật, đôi khi xem ra Thiên Chúa chỉ có một biện pháp thôi là chấm dứt thế giới hiện tại.

• 5. Today, especially, we may feel uneasy when we see an increase of certain evils, be it drugs, or the total absence of moral formation in a great number of young people to whom their elders have taught nothing other than the enjoyment of life. History shows that crises happen at times to purify through destruction and elimination. Have no fear. A remnant will always escape the storm and build anew. But whole sections of our culture that are deeply tainted will collapse so that the self-sufficiency stamped in our humanism may disappear: we must recognize our need for a savior.

Đó đúng là ý định mà tác giả gán cho Thiên Chúa trong vụ hồng thuỷ, có điều là Người không huỷ diệt hoàn toàn. Người cứu ông Nô-ê, người công chính, để cho một dòng giống thánh thiện phát sinh từ ông.

According to Noah’s story, this is God’s intention with the Flood, except that God does not destroy everything. He saves Noah, the just one, so that a holy race may may spring from him.

Xuyên suốt lịch sử thánh, ngay cả lúc Thiên Chúa giáng xuống dân Người những tai ương tệ nhất, Người vẫn để lại một số sót (Is 4,2-6 ; 6,13).

Throughout sacred history God will bring the worst disasters on his unfaithful people, but he will always preserve a Remnant (Is 4:2-6; 6:13).

Đó là cách Thiên Chúa chọn ông Nô-ê giữa tất cả các con cái A-đam ; sau này Người sẽ chọn ông Áp-ra-ham giữa dòng dõi ông Nô-ê ; rồi chọn Đa-vít giữa con cháu Áp-ra-ham, và cuối cùng chọn một người con của Đa-vít là Đức Ki-tô, là đại diện và là Đấng Cứu Tinh của nhân loại. Sách Thánh làm nổi rõ sự tương phản này : trong khi tội của một người là A-đam lan tràn tới mọi người và làm trệch hướng sự tiến bộ của các nền văn minh, thì Thiên Chúa, trái lại, tập trung dần dần tất cả chú ý vào một dân, một gia đình, và sau hết vào một người, Đấng sẽ cứu tất cả chúng ta (Rm 5).

This is how God chooses Noah from all the sons of Adam; later he will choose Abraham from among Noah’s descendants; then David from Abraham’s sons and, finally, one of David’s sons, Christ, the representative and Savior of all humanity. The Bible brings out this contrast: while the sin present in our roots extends to all people and frustrates the progress of civilization, God focuses all his attention on a single people, a single family, and a single man who will save everyone (Rom 5).

Cũng như ông Nô-ê, tín hữu là người tự ý tham gia chương trình của Thiên Chúa và cộng tác với Người trong việc cứu độ thế giới. Tôi có đức tin, nói vậy chưa đủ. Đức tin đó có thúc đẩy tôi hy sinh chính mình để làm cho thế giới thay đổi không ? Đối lại với những kẻ thờ ơ, lười biếng và hư hỏng, ông Nô-ê, con người đầy lòng tin, bắt tay vào việc ; ông không hoài nghi cũng chẳng nản chí suốt thời gian ông đóng tàu, một trò cười và xem ra vô ích.

Like Noah, the believer is a person who willingly enters into God’s plans and cooperates with him in the salvation of the world. It is not enough to say: “I have my faith.” Will this faith of mine lead me to sacrifice myself to change the world? Unlike the negligent, the lazy and the corrupt, Noah, the man of faith, begins to work and does not doubt or become discouraged while building his ridiculous and apparently useless boat.

Đến lúc Thiên Chúa loại trừ những kẻ không chịu dự phòng, chỉ biết sống cuộc sống hiện tại chứ không chuẩn bị cho tương lai, như Thiên Chúa kêu gọi (Mk 3,9-12 ; Xp 2,1-3 ; Mt 24,38).

The time comes when God eliminates the unprepared, those who preferred to enjoy life now rather than work for a future God pointed out to them (Mic 3:9-12; Zep 2:1-3; Mt 24:38).

Truyện hồng thuỷ được nhắc đến nhiều lần trong Tân Ước (1 Pr 3,10 ; 2 Pr 2,5). Truyện này dạy chúng ta rằng Thiên Chúa muốn đổi mới thế giới của những con người tội lỗi là chúng ta. Đặc biệt là ngày nay chúng ta có thể cảm thấy bất ổn khi nhìn vào những tệ nạn, chẳng hạn như xì-ke ma tuý, hay thiếu sự đào tạo luân lý cho một số rất đông những người trẻ, mà các người lớn chỉ dạy cho họ biết hưởng thụ. Truyện còn cho thấy các cuộc khủng hoảng xảy ra đúng lúc để thanh tẩy bằng cách loại bỏ. Chúng ta đừng sợ : vẫn có một số sót thoát cơn cuồng phong và sẽ xây mới lại. Những mảng văn hoá đã hư hoại nặng của chúng ta sẽ bị nhấn chìm. Tính tự mãn vốn ăn sâu trong bản tính nhân loại của chúng ta, cần phải biến đi : chúng ta sẽ phải nhìn nhận rằng chúng ta cần một Đấng Cứu Độ.

The story of the flood is recalled in several places in the New Testament (see 1 P 3:20 and 2 P 2:5). This story teaches us that God wants to renew our sinful world. For that to be accomplished, we need a process of purification and we need to look at not only our evil habits but the very roots of our culture. To begin with, we must let go of our pride and admit that we need a Savior.

Theo một nghĩa nào đó, Hội Thánh là “Chiếc Tàu”, chúng ta gia nhập nhờ lòng tin và bí tích Thánh Tẩy, và được Đức Ki-tô, Nô-ê mới, tiếp nhận. Hiển nhiên là chúng ta sẽ có lỗi, nếu chúng ta tự khép mình trong Hội Thánh như trong nơi nương náu của những kẻ đã được cứu thoát, và từ đó lên án tất cả những gì diễn ra trong thế gian, mà quên đi rằng chúng ta có sứ mạng cứu độ thế gian này (Ga 3,17). Nhưng chúng ta đừng quên rằng Hội Thánh là niềm hy vọng của thế giới, và không có cái gì con người đã xây dựng có thể gia nhập Nước Trời, mà không phải kinh qua nước vừa phá huỷ vừa thanh lọc.

In some way, the Church is this Ark which we enter through faith and baptism and where we are welcomed by Christ, the new Noah. It would obviously be wrong to lock ourselves in the Church as in a refuge of the saved and from there to condemn everything taking place in the world, forgetting that our mission is to save the world (Jn 3:17). Yet, we must not forget that the Church is the only hope of the world and nothing can enter the Kingdom without passing through purifying and destroying waters.

Sáng Thế 8

Gesnesis 8

* 8,21 Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa. Những sai lầm cũng như tội ác của loài người sẽ không thể đưa lịch sử trở lại thời hỗn mang. Không những mặt trời soi sáng chúng ta và trái đất vẫn cung cấp bánh ăn, nhưng ở mỗi thời đại nhân loại đều có cách giải quyết các vấn đề của mình, vì Thiên Chúa là một Thiên Chúa đầy lòng thương xót, và ngày lại ngày, Người vẫn đồng hành với con người, như một người Cha cùng đi với con mình trong suốt cuộc hành trình của nó (Đnl 1,31).

8.21 Never again will I curse the earth because of man. With these words the Bible assures us that human errors and crimes cannot lead to chaos. Not only will the sun give its warmth and the earth its bread, but in every century, humankind will find a solution to its problems.

Trình thuật về ông Nô-ê trong Sách Thánh xuất phát từ những truyền thống rất xưa của miền Trung Đông, được sử dụng lại lần đầu tiên vào thời vua Sa-lô-môn. Mãi sau này, các tư tế Do-thái mới thêm vào đó những đoạn, ở đây được in bằng chữ nghiêng.

Noah’s story has its source in very old leg-ends. It was put in writing for the first time in the days of King Solomon. At a much later date the Jewish priests added the paragraphs indicated in the text by smaller italics.

Sáng Thế 9

Genesis 9

* 9,1 Phúc lành Thiên Chúa ban cho ông Nô-ê và các con ông (nghĩa là cho cả nhân loại) tương tự như một bản chú giải lời hứa trước đó. Chúng ta hãy để ý những điểm sau đây :

• 9.1 God’s blessing on Noah and his children (that is on all humankind) serves as a commentary on the previous promise. Let us note the following points:

– Con người được khẳng định trong trách nhiệm quản lý thiên nhiên (c.2).

Man is confirmed in his role as steward of creation (9:2).

– Con người có thể ăn thịt (c.3) và trong chuyện này, Thiên Chúa, Đấng không ưa bạo lực cũng chẳng muốn cái chết, đã nhượng bộ (so sánh 1,29). Chỉ có máu là bị cấm : điều này là theo văn hoá riêng của người Híp-ri : theo họ thì “máu” chứa đựng “linh hồn”, hay là sự sống của các sinh vật, và ăn thịt mà không đổ máu con vật là phạm đến tính linh thánh của sự sống (Lv 17,10-24).

He may eat the flesh of animals (9:3), but not their blood (compare with 1:29) because for the Hebrews blood was thought to contain the soul, that is the life of a living being. Thus, to eat the flesh of animals without first draining the blood was considered as profaning the very sacredness of life (see Lev 17:10-14).

Giao ước này của Thiên Chúa (c.9) không phải chỉ có giá trị đối với một nhóm được tuyển chọn mà với tất cả nhân loại, với tất cả những gì đã ra khỏi tàu. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa quan tâm đến tất cả những gì người ta làm : văn hoá của họ, những cái họ phát minh ra, và những tham vọng chính đáng của họ. Thiên Chúa không phải chỉ là Thiên Chúa của những kẻ tin, nhưng của toàn thể thế giới. Chương trình tạo dựng của Người không chỉ nhằm cứu độ các linh hồn : nhờ tiến bộ kỹ thuật và văn hoá, càng ngày người ta càng phải ý thức trách nhiệm hơn, và Thiên Chúa chuẩn bị họ để thực hiện sự hợp nhất tất cả giống nòi chúng ta trong Đức Ki-tô và nhờ Thánh Thần.

The covenant of God with humankind (v. 8) and with everything that came from the Ark, means that God is interested in everything that people create: their culture, inventions, as well as their legitimate ambitions. God is not only the God of believers, he is the God of everyone. God does not want merely to save souls: through human creativity God enables people to grow in awareness and responsibility and he prepares them for divine union through the Holy Spirit.

Thiên Chúa không tỏ cho mọi nhóm nhân loại nhận biết Người như đã tỏ mình ra với Ít-ra-en, và sau này với các Ki-tô hữu. Tuy nhiên, với hết mọi người, trong mọi đất nước, Người ban những dấu chỉ về sự quan phòng và lòng nhân ái của Người qua những biến cố hằng ngày : đó là điều Người bộc lộ khi mời gọi con cháu ông Nô-ê nhận ra trong cầu vồng lời nhắc nhở về giao ước Người lập với họ (c.12). Vào thời ấy, treo cung lên tường là dấu hiệu bình an của thời đại : cầu vồng là cây cung Thiên Chúa treo trên trời là lều của Người.

God has not made himself known to all human groups as he has done for Israel and later for Christians. But to every human in every country, he gives signs of his providence and his goodness through daily events: this is what he expresses when he invites Noah’s descendants to see in the rainbow a reminder of his covenant with them (12).

* 9,18 Trong các nền văn hoá sơ khai, khi tìm kiếm những cảm giác siêu nhiên, người ta dễ biến say rượu thành nghi thức thánh. Họ tin rằng mình tìm được trong rượu những sức sống cho phép họ thoát được thời gian. Sách Thánh tôn trọng khát vọng này và muốn tôn trọng ông Nô-ê hơn là lên án chuyện ông say rượu.

• 18. In primitive cultures, those seeking supernatural experiences turned drunkenness into a sacred ritual. They believed there were vital forces in wine which would permit them to escape from the passage of time. The Bible accepts these concerns and prefers to honor Noah rather than to condemn him.

Sáng Thế 10

Genesis 10

* 10,1 Ba con ông Nô-ê là biểu tượng đại diện ba nhóm nhân loại mà, theo người Ít-ra-en, làm nên cả loài người :

• 10.1 Noah’s three sons symbolically represent the three human groups which the Israelites believed formed humankind:

– Nhóm của chính người Ít-ra-en, được Thiên Chúa ban phúc lành, gồm các dân Sêm (kể cả các người Ả-rập trong số các dân khác nữa). Họ gọi tổ tiên họ là Sêm, hoặc “Tên” kẻ biết và giữ được Tên, tức là sự hiện diện của Thiên Chúa.

– Their group, blessed by God, the Semites (including Arabs, among others). They called their ancestor Shem, meaning “the Name,” the one who knows and keeps the Name, that is to say, the Presence of God.

– Nhóm thứ hai, Gia-phét, gồm các dân Âu châu, những dân sau này sẽ lập nên các đế quốc Hy-lạp và Rô-ma.

– Another group, Japheth, including the people of Europe, who were to form the Greek and Roman empires.

– Nhóm thứ ba là nhóm các dân Phi châu, nhất là Mít-ra-gim (Ai-cập) cũng như Cút (Ê-thi-óp) và những người Ca-na-an cư ngụ trên Đất Thánh trước khi dân Ít-ra-en đánh chiếm. Vì chuyện vô luân tính dục rất phổ biến nơi dân Ca-na-an, nên người ta gán cho ông Kham tổ tiên họ một vụ trắc nết.

– The other group was that of the African people, especially Mizraim or Egypt and Cush or Ethiopia and also the Canaanites who occupied the Holy Land before its conquest by the Israelites. Since sexual immorality was quite frequent among the Canaanites, a lack of modesty is attributed to their ancestor Ham.

Trong bản thống kê các tổ tiên ở đây, tên của các anh hùng huyền thoại được xen lẫn với tên các dân và các thành “con cái” của giống nòi nọ, giống nòi kia. Ví dụ các tên xuất hiện từ c.2 đến c.6 là tên các dân các chi tộc chứ không phải của cá nhân.

In this list of forefathers, names of legendary heroes are mixed with lists of people and cities as “sons” of this or that race. For example all those mentioned in verses 2-6 are people and tribes, not individuals.

Sáng Thế 11

Genesis 11

* 11,1 Trình thuật về tháp Ba-ben lấy lại một phần các huyền thoại về Ba-ben (Ba-by-lon), thủ đô nổi tiếng nhất của một thời, với các dinh thự bằng gạch và các ngọn tháp kỳ cục coi như bị bỏ dở của nó. Chứng minh điều đó có lẽ không khó. Ở 11,7 thánh ký giữ lại một thuật ngữ hàm hồ xuất phát từ huyền thoại ngoại giáo vừa nói, trong đó các thần để lộ sự sợ hãi vì bị những con người ngạo nghễ đe doạ ngay trong nơi các thần cư trú.

• 11.1 It would be easy to show that the Tower of Babel story, reproduces in part, legends about Babel, or Babylon, the most famous capital of the time, with its brick buildings and its strange, unfinished-looking towers. In 11:7 the biblical author retains an ambiguous expression from these pagan legends: the gods were afraid of the arrogance of humans who were threat-ening them in their celestial dwellings.

Sau đây là đôi lời về một cái nhìn rất bi quan trước sự tiến bộ và việc tập trung hoá. Thiên Chúa đã trao cho con người sứ mạng chiếm hữu toàn thể trái đất, để làm cho nó sinh hoa kết quả ; phải phân tán là chuyện đương nhiên, nhưng vẫn nói một ngôn ngữ.

God has given us the mission to occupy the land and make it fruitful. People often prefer their own security to being creative.

Việc khám phá những kỹ thuật mới khai mở thời đại của các thành thị, việc tập trung vào đô thị cho ra đời những phương tiện xây dựng những công trình vĩ đại, việc này cũng khơi lên những tham vọng quyền bính. Khao khát thống trị và ý chí tự vệ chống lại các đe doạ cũng như những rủi ro : đó là những sức bật tiềm ẩn của các đế quốc.

The great projects for which the legitimate rights of millions of slaves have been lightly sacrificed remain unfinished. Resentment and oppression have contributed to irreparable divisions for the following generations or the next century.

Một mình Thiên Chúa mới quy tụ chúng ta lại được : khi Thánh Thần ngự vào tâm hồn các tín hữu trong lễ Ngũ Tuần (Cv 2) thì Người đã làm cho họ hiểu được nhau trong ngôn ngữ độc nhất của tình yêu. Sẽ chỉ có một dân duy nhất là Hội Thánh.

God alone can bring us together: the first promise to Abraham was that he would gather all the nations around his offspring (Gen 12:3). When the Holy Spirit would come into the hearts of believers on Pentecost (Acts 2), he would enable them to understand one another in the unique language of love. One people: this will be the Church.

Trong khi kẻ có tội làm việc đơn độc và khai triển một thứ văn hoá đàn áp, thì những ai có lòng tin sẽ xây dựng cùng với Thiên Chúa, nhờ tình liên đới và sự hiệp thông trong Thánh Thần (Ep 2,14-22).

While the sinful work alone and develop an oppressive and sterile male-centered culture, the believer builds through intercommunication and communion in the same Spirit (Eph 2:14-22).

Thời xưa sự khác biệt về ngôn ngữ cũng như về văn hoá gây thắc mắc ; ngày nay người ta nghĩ rằng con người biết nói đã từ mấy chục ngàn năm rồi ; nhưng ngôn ngữ thì luôn luôn phát triển, nhất là khi không có chữ viết để làm cho nó cố định. Ở một thời đại mà các nhóm nhân chủng được phân tán rải rác trên các lục địa, sống hầu như không dính dáng gì với nhau, thì chỉ cần vài thế hệ là ngôn ngữ có thể tăng bội vô kể.

The diversity of human languages aroused interest at the time, as did the diversity of cultures. Today it is accepted that people have spoken for several tens of thousands of years; but language is continually in evolution, more so when there is no writing. At a time when fewer human groups, scattered over the continents, lived with little contact with one another, a few generations sufficed for languages to multiply infinitely.

11,26 Ông Te-rác sinh ra Áp-ram. Ông Áp-ram này là ông Áp-ra-ham, cha của các tín hữu (x. 17,5). Chúng tôi đã nói trong phần Dẫn nhập rằng truyện ông Áp-ra-ham không phải lịch sử trong mọi tình tiết. Nó giống như quyển sách về lòng tin : minh hoạ những chặng đường tiêu biểu và những thử thách mà mọi tín hữu phải trải qua một lúc nào đó trong đời mình.

• 26. Terah became the father of Abram. Abraham was at first called Abram. We must understand that the account of Abraham is not historical in every detail. it is like a faith book in which we are shown the most typical stages and trials which any believer goes through at one time or another in his life. We see these played out by Abraham.

Nhìn vào bản đồ, người ta dễ dàng nhận ra vùng lưỡi liềm trù phú, được tạo nên bởi các thung lũng của Lưỡng Hà Địa và các đồng bằng xứ Ca-na-an. Bên trong vòng cung này là các cao nguyên và các sa mạc, nơi các dân du mục sinh hoạt, vì họ luôn luôn phải tìm nơi có cỏ cho chiên cừu của họ. Ông Áp-ra-ham, cũng như nhiều nhóm du mục tương tự, thuộc về một trong nhiều thị tộc người E-mô-ri. Cũng như nhiều người trong số họ, gia đình ông trước kia đã rời Ua và đem súc vật của mình đến định cư gần trung tâm Kha-ran (11,31).

On a map we can see the crescent formed by the fertile valleys of Mesopotamia and the plains of Canaan. Inside this fertile crescent were tablelands and deserts where half-starved, nomadic tribes traveled, looking for pastures for their sheep and donkeys.

BA LỜI THIÊN CHÚA PHÁN

Ở ch. 1 sách Sáng thế Thiên Chúa phán : đó là cuộc sáng tạo.

Ở ch. 9, một lần nữa Thiên Chúa phán, để giáng phúc cho toàn thể nhân loại.

Ở ch. 12, Thiên Chúa phán lần thứ ba, để khởi đầu cho một dân của Thiên Chúa.

Đó là ba bước dài, ngắn rất khác nhau trong Sách Thánh, vì mặc khải thực hiện cho dân Thiên Chúa sẽ chiếm tất cả phần còn lại của Sách Thánh, nhưng điều ấy không quan trọng lắm. Nếu ta đi sâu vào tinh thần của Sách Thánh, ta sẽ khám phá ra rằng ba khía cạnh của công trình Thiên Chúa thực hiện chỉ là một, và ăn khớp với nhau bằng muôn ngàn cách. Nhưng hãy coi chừng ! Nếu ta đã không hiểu rõ ý nghĩa của ba lời này thì có ngày chúng ta sẽ không còn có thể chấp nhận chứng từ của Sách Thánh nữa và hình ảnh Đức Giê-su sẽ mờ dần đi trong tâm trí chúng ta. Vì ba lời này đi ngược lại với những thành kiến đang ghi đậm dấu ấn trên thời đại chúng ta.

Thiên Chúa phán, và Lời Người sáng tạo vũ trụ với các luật thiên nhiên của nó. Sách Thánh sẽ nhắc nhở rằng các luật này là vững bền mãi mãi. Nhưng Sách Thánh cũng nói rằng vũ trụ không ngừng tuỳ thuộc vào Thiên Chúa và tuân theo Lời Người. Nói rằng Thiên Chúa đã đặt thế giới trong tình trạng tự điều khiển lấy, thì đúng hầu hết : không phải Người cứ mỗi lúc mỗi bấm nút. Tuy nhiên, chúng ta sẽ đi trệch mặc khải của Sách Thánh, nếu chúng ta tưởng Thiên Chúa đã ấn định tất cả từ đầu và tự buộc mình, dù muốn hay không, để cho các sức mạnh thượng giới can thiệp và chồng chéo lên các luật thiên nhiên, hoặc gác các luật này qua một bên (theo quan điểm của chúng ta). Sách Thánh nói rằng Thiên Chúa nghỉ công việc của Người ngày thứ bảy (St 2,4), nhưng điều ngược lại cũng đúng : Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc (Ga 5,17). Thiên Chúa không ngừng bộc lộ chính mình qua công trình Người thực hiện và tạo thành tiếp tục sống và hiện hữu trong Người. Các luật thiên nhiên là cái bóng của một thực tại cao hơn là sự công chính ở nơi Thiên Chúa, nhưng trong thiên nhiên còn có nhiều thành tố hơn là các luật vật lý, khởi đi từ sự phong phú và vẻ huy hoàng của nó. Năng lực sáng tạo liên lỉ của vũ trụ, một trong những khả năng huyền bí nhất của nó, là một phản ánh năng lực sáng tạo tự do của Thiên Chúa là năng lực không bao giờ bị hạn chế.

Bấy nhiêu cũng đủ để gây thắc mắc cho những ai cho rằng chắc chắn các định luật không thể du di và chỉ có cái gì là đối tượng cho việc thí nghiệm mới hiện hữu. Không có các định đề này thì sẽ không có nghiên cứu khoa học, nhưng không vì thế mà các định đề ấy là tất cả thực tại của vũ trụ, cả điều chính yếu cũng không. Mà nếu người ta không kiềm chế được thành kiến ấy, thì người ta sẽ từ chối không nhìn nhận rằng Thiên Chúa can thiệp vào trật tự thiên nhiên trong vũ trụ. Người ta sẽ loại khỏi Tin Mừng việc hoá bánh ra nhiều, sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a, truyện Hiển Dung, v.v… cho rằng các bản văn nói ngược với điều họ nói. Người ta cũng sẽ chối tất cả mọi chứng cứ hiện đại về những vụ can thiệp siêu việt của Thiên Chúa, trước mắt chúng ta hoặc trong thế giới nội tâm của chúng ta và, rất hợp với lý luận đó, người ta phủ nhận luôn ý nghĩa của cầu nguyện. Lập trường duy lý này xem ra hấp dẫn, nhưng nó cằn cỗi : nó bóp nghẹt cả lòng tin lẫn niềm vui.

Việc Thiên Chúa phán trong lịch sử ông Nô-ê không phải là không có nhiều ý nghĩa. Thiên Chúa khai mở thời gian sau hồng thuỷ bằng một giao ước thiết lập với mọi dân tộc, vì tất cả đều là dòng dõi ông Nô-ê. Thiên Chúa giáng phúc cho họ, điều này có nghĩa là Người mở cho họ con đường cứu độ : họ sẽ gặp con đường ấy qua một ngàn lẻ một nền văn hoá và tôn giáo của họ (Cv 17,27). Khi Lời hoặc sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa tự lộ diện trong cuộc tìm kiếm khôn ngoan của họ thì Lời ấy chỉ tiếp tục công trình sáng tạo mà thôi. Như thế, toàn bộ diễn tiến của lịch sử sẽ kéo dài chương trình của Đấng Hoá Công.

Chúng ta cần gì nữa không ? Phải chăng nhân loại không có tất cả những gì cần để kiện toàn công cuộc sáng tạo ? Nghĩ như vậy có nghĩa là quên rằng con cháu ông Nô-ê vốn là con cháu A-đam, cho nên đều có tội. Nhưng còn hơn thế nữa : sáng tạo đối với Thiên Chúa là phương thế để bộc lộ chính mình. Thế mà, ngay cả khi Người có thể trao phó các kho tàng phong phú của vũ trụ cho một nhân loại ngày càng lý trí hơn, thì điều lạ lùng nhất ở nơi Người vẫn chưa lộ ra : đó là một tình yêu năng động với những sáng kiến mà chỉ mình Người mới hiểu. Vậy, Người sẽ kêu gọi những con người và những nhóm người cùng với Người sống một lịch sử rất độc đáo và thường là trái ngược với kinh nghiệm chung. Và cuộc khởi hành đầu tiên, hay là vụ bứt phá thứ nhất, chính là Thiên Chúa gọi ông Áp-ra-ham.

Đây là lần thứ ba Thiên Chúa phán. Lần này ghi dấu khởi đầu cho một dân của Thiên Chúa, khác với tất cả các dân khác, và sự đối lập, hoặc chuyện phân đôi này giữa những người được chọn và những kẻ không được chọn làm cho lương tâm của một số đông Ki-tô hữu khó chịu. Tại sao lại có hai bàn cân, hai thước đo ? Và có khi vì khiêm nhường giả tạo, chúng ta bị cám dỗ khước từ những ân huệ dồi dào : tại sao tôi lại có chân lý hơn những người khác ? Chính đây là lúc chấp nhận Thiên Chúa của Sách Thánh hay là không. Người là Đấng yêu thương và thành tín ; Người gọi kẻ Người muốn và ban cho người này mà không cho kẻ kia. Người ban nhiều thì người ta phải làm ra nhiều, để cho tất cả thiên hạ được hưởng ; nhưng Người cho cái gì Người muốn. Chính Người làm ra chúng ta từ hư vô, không ai giống ai. Người làm ra chúng ta thế nào thì chúng ta là thế ; đồng thời Người cũng đặt chúng ta trên một hành trình, hành trình ấy gắn liền với những nhu cầu, hy vọng và khao khát hạnh phúc của chúng ta.

Vậy, độc giả Ki-tô hữu ngay từ đầu phải chấp nhận nét độc đáo nơi ơn gọi của mình : ơn gọi này vừa làm cho mình phong phú vừa đòi mình phải phục vụ thế giới.