Từ Lời Chúa cho Mọi Người
From Christian Community Bible
CÁM DỖ VÀ TỘI PHẠM
TEMPTATION AND SIN
* 3,1 Phần thứ hai của bài trình thuật về vườn Ê-đen cho thấy một bộ mặt khác của số phận con người. Sau khi chương 2 trình bày kế hoạch của Thiên Chúa, giới thiệu con người lý tưởng, chương 3 lại cho thấy số kiếp hiện tại của con người thì khác, và đặt ra câu hỏi : lỗi tại ai ?
• 3.1 The second part of the Eden story shows us the second aspect of human destiny. After chapter 2 which presented God’s plan, what he wants for us, chapter 3 gives the reality, the actual human condition, and it asks the question: whose fault is it?
Rắn là loài xảo quyệt nhất… Trong văn chương các dân tộc Trung Đông, rắn vừa là loài độc ác vừa là vật linh thiêng. Cái xấu không đến từ Thiên Chúa, cũng không từ một thần linh nào khác đối thủ của Chúa, mà từ một nhân vật rất quan trọng thuộc thượng giới, như Xa-tan trong sách Gióp chẳng hạn (Kn 2,24 ; Ga 8,44).
The serpent was the most crafty. In the literature of the Middle East, a snake was an evil creature but also endowed with divine powers. Evil does not come from God, nor from another God rival of the first, but from an important character of the higher world, like Satan in the book of Job (Wis 2:24; Jn 8:44).
Cám dỗ : hãy quên đi chuyện trái táo thường hay được nhắc tới nhưng lại không có trong bài trình thuật. Chỉ nói về cây cho biết điều thiện điều ác và hoa trái của nó. Chước cám dỗ đến, nguỵ trang dưới chiếc áo tốt lành là rủ ta đi tìm sự khôn ngoan. Nên biết người xưa dùng động từ ăn chỉ việc học đi học lại cho thuộc lòng những lời nói của các thánh hiền : người ta ăn những hoa trái của sự khôn ngoan (Cn 9,5 ; Hc 24,19). Cây cho biết thiện ác có nghĩa là nghệ thuật sống và thành công (x. 1 V 3,11), và cũng chính sự tự do của con người mở ra cho nó con đường dẫn tới thiện và ác, sống và chết (Đnl 30,15). Mà đây, Thiên Chúa lại đặt con người trong một hoàn cảnh có mâu thuẫn, khi để sự khôn ngoan ở trong tầm tay của nó mà đồng thời lại nói : Ngươi không được ăn ! Vậy trước hết, con người phải khước từ việc chiếm đoạt sự khôn ngoan.
Temptation will hide itself in the conquest of wisdom. Let us recall that at the time the verb to eat was used to indicate learning by heart, through repetition, some words from the wise: we eat the fruits of wisdom (Pro 9:5; Sir 24:26). The tree of knowledge is the art of living and wealth (see 1 K 3:11) and freedom is seen as the open gate to good and evil, life and death (Dt 30:15). Thus God placed human beings in a conflictive situation when he set wisdom within their reach while telling them: You are not to touch it. They will first have to forgo trying to seize it.
Bài trình thuật phân biệt ba thì : cám dỗ, phạm tội và phán xét.
The account distinguishes three moments: temptation, sin and judgment.
Điều con rắn nói là không sai : đối với con người, đâu có gì là quá cao vời, không với tới được. Nhưng nó cũng khơi dậy nơi lòng người sự nghi ngờ đối với Thiên Chúa.
Temptation. The serpent repeats to humans what is true: nothing is too great for them. At the same time he leads them to doubt God.
Kế đến là tội phạm. Cuộc đối thoại tay ba này thật kỳ lạ ! Người đàn bà thèm ăn, mà người đàn ông mới thật sự là thủ phạm ! Người đàn bà dụ dỗ : đây chẳng phải là sự thật sao ? Lúc bấy giờ, đó chẳng phải là sự thật sao ? Vào cái thời xa xưa ấy, tác giả thấy nhởn nhơ trước mắt những cảnh người ta khai thác phụ nữ, cũng như cái khéo léo của kẻ bị khai thác để lấy lòng các ông chủ của họ. Nhưng vì thấy hai bên không đau khổ đồng đều, nên tác giả kết luận là chắc chắn người đàn bà là người đầu tiên đã bất trung với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đâu chấp nhận những kiểu chạy tội của người đàn ông.
Then comes sin. How strange this conversation of three! It is the woman’s wish, and it is man who commits the real sin. The woman temptress – isn’t this the reality, especially in a world where she is relegated to an inferior state? Perhaps the author in this remote age witnessed the exploitation of women and the art of exploited people to manage their masters. Seeing that suffering was unevenly shared he concluded that the woman was the first to be unfaithful. God will not accept man’s excuses.
Có hai chi tiết nói lên cách mỉa mai nỗi thất vọng ê chề của người có tội : Mắt ông bà sẽ mở ra – để thấy mình trần truồng ; và Ông bà sẽ nên như vị thần biết điều thiện điều ác – mà họ thì chỉ còn biết có cái ác.
Two details ironically express the sinner’s disappointment. Your eyes will be opened: and they knew they were naked. You will know good and evil: and they did not go beyond evil.
Họ trốn … THiên Chúa. Việc sợ hãi Thiên Chúa có vẻ như hậu quả của tội lỗi.
They hid… from God. The fear of God appears as a consequence of the sin.
Có những đoạn Kinh Thánh khác nữa liên quan đến các đề tài này :
Other biblical texts dealing with these themes:
– con rắn thời xưa : Kn 2,24 ; Ga 8,44 ; 2 Cr 11,3 ; Kh 12,19 ;
The ancient serpent: Wis 2:24; Jn 8:44; 2 Cor 11:3; Rev 12:17.
– ý niệm sai lầm về một Thiên Chúa ghen tương : Mk 6,7 ; G 10,13 ; Mt 25,24 ;
The false concept of an envious God: Mic 6:7; Job 10:13; Mt 25:24.
– phản nghịch Thiên Chúa : Is 14,14 ; Ed 28,2 : Đn 11,36 ; Lc 5,11 ; 2 Tx 2,4 ;
Rebellion against God: Is 14:14; Ezk 28:2; Dn 11:36; Lk 15:11; 2 Thes 2:4.
– cám dỗ : Mt 4,6-25 ; Hc 15,11 ; Rm 7,8 ; 1 Cr 10,13 ; Gc 1,13.
Temptation: Mt 4; 6:13; Sir 15:11; Rom 7:8; 1 Cor 10:13; James 1:13.
A-ĐAM VÀ ĐỨA CON HOANG ĐÀNG
ADAM AND THE PRODIGAL SON
Tội phạm này của A-đam, mở đầu lịch sử cứu độ, phải được suy xét trong ánh sáng của Tin Mừng, và chính xác hơn, của truyện đứa con hoang đàng (Lc 15,11tt). Dụ ngôn này đi xa hơn việc nhắc nhớ chúng ta về lòng nhân hậu vô bờ của Thiên Chúa đối với kẻ có tội sám hối trở về : nó cho thấy đời người như một cuộc phiêu lưu trước mặt Thiên Chúa, cuộc phiêu lưu của đứa con hoang đàng. Nhưng trong khi A-đam của St dừng lại ở việc khám phá ra tội phạm của mình, thì đứa con trai trong dụ ngôn khám phá rằng nó là con.
This sin of Adam opening up sacred history must be re-examined in the light of the Gospel, and more specifically, in the story of the prodigal son (Lk 15:11). This parable is much more than a reminder of God’s infinite mercy for the sinner who turns to him: it tells us what the human adventure is in the eyes of God, that of a prodigal son. While in Genesis, Adam stays with the discovery of his sin, in the parable he discovers he is a son.
Chúa Giê-su là người Con, và Người làm cho chúng ta trở thành những người làm con : Người giải thoát chúng ta như vậy đó.
Jesus is the Son and he makes us sons and daughters: he frees us in this way.
* 3,14 Tả cảnh cuộc phán xét của Thiên Chúa là một cách nói lên kiếp người của chúng ta là gì : A-đam sống cuộc đời mình xa mắt Thiên Chúa, trong khổ đau và mâu thuẫn. Kiếp lầm than của ông sẽ làm méo mó những nét tinh anh của đời ông :
• 14. God’s judgment is a way of saying what our condition is… Adam lives his life away from God in suffering and contradiction. His disgrace will defile the better part of his existence:
– sinh hạ và dưỡng dục con cái ;
– giving birth and educating children;
– tương quan vợ chồng : bên nào mạnh sẽ thống trị bên kia ;
– the relationship between husband and wife, with the stronger one dominating the other;
– lao động trở thành một điều tất yếu và một gánh nặng.
– work becomes a burden.
Mi là đồ bị nguyền rủa. Thiên Chúa nguyền rủa con rắn chớ không phải con người. Kế hoạch ban đầu không thể thất bại : hạnh phúc và bình an vẫn còn nằm ở điểm tới, nhưng con người chỉ đạt tới đó qua một tiến trình khó hiểu và xem ra như là thất bại (1 Cr 1,21) : đó là công trình cứu chuộc với Chúa Giê-su và nhờ Chúa Giê-su.
Be cursed… God curses the serpent but not humankind. God’s original plan cannot fail: happiness and peace are at the end, but we will only reach this through a history that is disconcerting and often seems a failure (1 Cor 1:21): that will be redemption with Jesus and by Jesus.
Dòng giống người (đàn bà) sẽ đánh vào đầu mi. Tác giả Sách Thánh nghĩ tới cuộc chiến thắng cần nhiều thời gian của dân Thiên Chúa trên sự ác : miêu duệ của người nữ, luôn luôn bị tổn thương nhưng vẫn được Thiên Chúa dẫn dắt đến những hoài bão mới mẻ. Niềm hy vọng sẽ chiến thắng sự ác một lần dứt khoát là nguồn cảm hứng xuyên suốt lịch sử Sánh Thánh. Cũng chính niềm hy vọng giữ gìn chúng ta tỉnh thức trong một thế giới mà đâu đâu cũng thấy những chuyện gây thất vọng, hoặc là ru ngủ chúng ta, cho đến ngày cái chết sẽ đến giải quyết hết mọi sự.
He will crush your head. The biblical author was thinking of the slow victory of God’s people over evil: the woman’s descendants always wounded but led by God to new hope. The hope of a definitive victory over evil gives life to all biblical history and it is that which keeps us alert in today’s world where all is programmed to drug us until the day death adjusts everything.
A-đam đặt tên cho vợ : đây là cử chỉ hứa hẹn một cuộc khởi hành mới nhưng cũng là dấu chỉ của quyền uy. Về phía Thiên Chúa, Người mở đầu một chuỗi dài những biểu hiện của “lòng nhân ái” của Người, nói theo ngôn ngữ Kinh Thánh. Ví dụ Người làm cho ông bà chiếc áo che thân giờ đây đã trở thành cần thiết để bảo vệ phẩm giá của họ. Nhưng đây cũng là lúc nhắc lại rằng chúng ta phải đảo lộn trật tự tưởng như trình tự thật của bài tường thuật : điểm đầu câu chuyện này, vườn địa đàng, thật ra là điểm cuối mà thuở ban đầu, khi dựng nên chúng ta, Thiên Chúa đã nhắm cho chúng ta hướng tới ; và hôm nay, con người A-đam có sinh có tử là số kiếp của chúng ta trên đời. Sự yếu đuối và số phận phải chết của con người A-đam nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Cuộc đời chúng ta sẽ là một cuộc tiến lên không ngừng, từ kiếp sống A-đam –chỉ như động vật và không phải là bất tử– lên tới sự thánh thiện và bất hoại của A-đam mới, là Chúa Ki-tô (1 Cr 15,45).
Adam gives a name to his wife, the promise of a new starting point but also sign of authority. On the other hand, God inaugurates the long series of his “blessings,” to speak as the bible does. And so, God gives Adam and Eve the loincloth now necessary for their dignity. But this is the time to recall that we have to invert the apparent order of the account: the beginning of history, paradise, pictured the end for which God created us, and now the mortality of Adam expresses our reality on earth. So Adam’s weakness and his death are part of God’s plan of salvation. Our lives will be an ongoing ascent from Adam’s life – animal and mortal – toward sanctity and the incorruptibility of another Adam, Christ (1 Cor 15:45).
KHÔNG NÊN HIỂU SÁT CHỮ
DO NOT TAKE EVERYTHING LITERALLY
Chúng ta đã nói rằng các nhân vật trong trang sách này, cũng như con rắn, là do tác giả vay mượn từ những truyện cổ xưa. Ông cũng đã giữ lại những lối nói nghe lạ tai như Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, là một lối nói lấy thẳng từ kho tàng thần thoại ngoại giáo, trong đó các thần linh không đời nào để cho người phàm cạnh tranh với mình. Các thần Kê-ru-bim với lưỡi gươm sáng loé cũng vậy, ngầm chỉ các thành hoàng được đặt tượng ở các cổng thành để bảo vệ các thành ấy. Ở đây, các hình ảnh ấy được dùng để cho thấy rằng loài người “đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” (Ep 2,3), tức là còn phải chờ ngày được hoà giải với Người.
We have already mentioned that the author of these pages took some characters from ancient tales, for example, the serpent. He also preserved some strange expressions, like the following: the man has become like one of us… in which it would seem that God is afraid of human competition. The author did not feel it necessary to clarify these ambiguous expressions which came directly from the pagan legend. The same goes for the cherubim and the flaming sword which referred to certain figures posted at the entrance of cities to keep the evil spirits away. Here, these figures show that humankind is under the wrath of God (Eph 2:3): that is to say that humankind is expecting to be reconciled with God.
TỘI TỔ TÔNG HAY NGUYÊN TỘI
ORIGINAL SIN
Sau St, không có sách Cựu Ước nào nói tới A-đam và tội của ông nữa (trừ một chỗ ám chỉ rất ngắn ở Kn 10,1 ; còn Hc 25,24 thì như thể một kiểu nói đùa). Nhưng bài học mà truyện này để lại thì chúng ta gặp thấy dưới trăm ngàn hình thức, đó là : tất cả chúng ta đều sa ngã, kẻ nặng người nhẹ, đều phạm tội bất trung với Thiên Chúa. Nào là Ít-ra-en, dân riêng của Thiên Chúa, đi đúc một con bò vàng để thờ (Xh 32) ; nào là ông Mô-sê, một vĩ nhân, đã nghi ngờ Thiên Chúa và không đáp lời Người (Ds 20) ; rồi vua Đa-vít, được Thiên Chúa tuyển chọn, lại trở thành một kẻ sát nhân và ngoại tình (2 Sm 11) ; và vương quốc Ít-ra-en tự chia rẽ ngay thuở mới hình thành (1 V 1,2). Và mỗi lần đều vẫn một kết luận : Thiên Chúa luôn giữ lời hứa của Người, nhưng suốt con đường tương lai sẽ đầy những khổ đau và chết chóc.
Adam and his sin will not be mentioned again in any Old Testament book except for a brief reference in Wis 10:1 (Sir 25:24 is somewhat of a joke). But what this story teaches, is that all of us, some more some less, are unfaithful to God in a thousand ways. We see Israel, chosen by God, making a golden calf for its god (Ex 32); we see Moses, the great Moses, who doubts God and does not respond to him (Num 20); we see David, God’s chosen one, a murderer and an adulterer (2 S 11); we see the kingdom of Israel breaking up after it barely began (1 K 12). And each time we reach the same conclusion: God keeps his promises, but the whole future is to be marked by suffering and death.
Vậy tội A-đam đâu phải là một tội nào khác, một chuyện cũ có trước những lần phản bội của chúng ta, tự nhiên đem đổ vào cho thêm nặng phần sa phạm của riêng chúng ta, mà đó là một lối nhìn khác về tội lỗi trong loài người chúng ta. Nhìn ngắm các sự kiện trong lịch sử Ít-ra-en, tác giả đã hiểu ra rằng tội lỗi chúng ta không phải là thứ tội của những cá nhân riêng rẽ. Mỗi người chúng ta, ngay từ phút lọt lòng mẹ và ngay cả trước khi lọt lòng mẹ, đã dầm mình trong một thế giới bạo lực và không nhận biết Thiên Chúa (Tv 51,7) : những người chung quanh, văn hoá, những kinh nghiệm đầu đời, tất cả đều dạy ta biết tội là gì.
So the sin of Adam is not just another sin, older than our own rebellion, to be added – without our wanting it – to our own offences; it is rather another way of looking at the sin of our race. Here is what the author has understood in pondering the events of Israel’s past: our sins are neither isolated nor individual. Each one of us from birth, and even before birth, has been immersed in a world of violence and ignorance of God (Ps 51:7): our relatives, our culture, our first experiences have taught us to sin. “Adam” is made of all this interconnectedness.
Không có một lời nào về A-đam và tội của ông trong các sách Tin Mừng : chỉ có Ga 8,44 ám chỉ ma quỷ, tên sát nhân, và không có chỗ nào trong toàn bộ Tân Ước, nếu không có bức thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma, ở đó, câu chuyện lại được đặt làm màn chính : x. bình giải Rm 5,12.
Not a word about Adam and his sin in the gospels: just a hint to the evil murderer in Jn 8:44 and nothing in all of the New Testament – other than Paul’s letter to the Christians of Rome. There, however, this story takes center stage again. See the commentary of Rom 5:12.
Bản văn quan trọng này của Thánh Phao-lô (Rm 5) là cơ sở những khẳng định Ki-tô giáo về “tội của loài người” sau này được gọi là “tội tổ tông” hay “nguyên tội”. Lời khẳng định gồm hai mặt : một là tất cả chúng ta đều liên đới với nhau trong việc nổi dậy chống lại Thiên Chúa (Rm 5,10), để lại những vết hằn từ đời này qua đời nọ ; mặt khác, không ai trong chúng ta bẩm sinh là con Thiên Chúa cả : tất cả chúng ta đều cần được ơn hoà giải (Ep 2,12), Thiên Chúa phải đi bước trước và giải cứu chúng ta nhờ Chúa Ki-tô.
This important text of Paul (Rom 5) is at the root of Christian statements on the “sin of the human race” which later would be called “original sin.” The statement is twofold: on one hand, all of us together are involved in a rebellion against God that leaves its imprint from age to age; on the other hand, not one of us is a child of God by nature: we are all in need of reconciliation. God takes the first step and saves us through Christ.
Tất cả những điều trên đi xa hơn rất nhiều những gì mà bài trình thuật cổ xưa nói cho chúng ta biết : đây là một cách đọc lại truyện xưa, trên cơ sở niềm tin vào Chúa Ki-tô và vào ơn cứu độ Người mang lại cho thế giới. Nhưng không phải vì vậy mà ta phế bỏ những trực giác của St. Như chúng ta, tác giả tìm cách trả lời câu hỏi : tại sao có cái ác trên thế gian này ? Và tại sao con cái A-đam là người tội lỗi ?
All that goes far beyond what was said in Genesis 3: it is a way of re-reading the text in the eyes of people believing in Christ and faith in the salvation he brings to the world. Even so the intuitions of Genesis have not been abandoned. The author of this story like ourselves is trying to reply to the question: Why is there evil in the world? and why are the children of Adam sinners?
Tác giả trả lời rằng cái xấu, cái ác phát xuất từ sự bất tuân Thiên Chúa, nhưng ông cũng nói rõ ràng không kém, rằng cái xấu đến từ một nhân vật rất quan trọng trong tạo thành. Chúng ta đã gặp, ngay từ những trang Kinh Thánh đầu tiên, câu khẳng định này : thế gian nằm dưới ách của Xa-tan, hay là ma quỷ, mà thánh Gio-an gọi là “thủ lãnh thế gian này” (Ga 12,31 ; 14,30) ; ngôn ngữ thời nay sẽ nói đó là một siêu cường linh thiêng can thiệp vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
He replies by saying that evil comes from disobedience to God, but he also clearly states that evil has come from a very important person in creation. We already meet in the first pages of the Bible an affirmation which today is a subject of ridicule for many Christians: the world is under the control of Satan, devil or demon – the one John calls “the governor of this world” (Jn 12:31; 14:30) who is in fact a spiritual super-power associated with God Creator.
Thánh Phao-lô có nói sai chăng khi tuyên bố rằng, vì Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, làm một kẻ phàm trần, lại phải chịu nhục hình, nên kế hoạch Thiên Chúa trở thành một nỗi ô nhục mà không một thụ tạo nào có thể chấp nhận, khởi đầu là những quyền lực hắc ám hoặc sáng láng đang thống trị thế gian (1 Cr 1,8 ; Cl 2,15) ? Chính bởi đó mà chúng ta có những bài dạy giáo lý hơi cũ hơi xưa, nhưng thật ra là những âm vang trung thực của thông điệp thánh Gio-an (Kh 12), trong đó nói rằng “tội của các thiên thần” trước hết là tội của tên đứng đầu họ chống lại Thiên Chúa, vì nó thấy rằng Thiên Chúa sẽ phá vỡ mưu đồ của nó bằng cách cho người Con Một xuống thế bám rễ vào tận cùng cái thấp hèn nhất trong vũ trụ, để rồi từ đó mà “kéo tất cả lên với Người” (Ga 12,32).
Was Paul mistaken when he affirmed that God’s plan with the coming of his Son-made-man – human, earthly, about to be tortured – was a scandal to every creature, beginning with both the occult and luminous powers that govern this world (1 Cor 1:8; Col 2:15)? This gave rise to the ancient catechetical texts, now fairly dusty, after so many years, affirming the “sin of the angels” – a durable affirmation in Jewish tradition. There had been a revolt of the greatest of the spiritual beings knowing that God would circumvent him by coming and establishing himself at the lowest point of the universe and from there to “draw all to himself” (Jn 12:32).
NGƯỜI PHỤ NỮ – ƠN VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
THE WOMAN – THE IMMACULATE CONCEPTION
Khi nói về dòng giống người đàn bà, tác giả St nghĩ tới cuộc đấu tranh của một nhân loại luôn bị tổn thương nhưng cuối cùng sẽ chiến thắng sự ác. Nhưng sau đó các tác giả Kinh Thánh ngày càng gợi ý nhiều về một Đấng Chiến Thắng, là Con Người, Đấng sẽ giao tranh trong trận chiến quyết liệt.
In speaking of the woman’s offspring, the author was thinking of people who struggle against evil and are constantly wounded, but are victorious in the end. But, later biblical writers referred more and more to a conqueror, the Son of Man, the prota-gonist of the decisive battle.
Vậy người đàn bà trước hết là nhân loại, được Thiên Chúa cho sinh hạ Đấng Cứu Thế, vị cứu tinh của chính nhân loại (Is 45,8). Chúng ta gặp lại hình ảnh này trong Kh 12. Hình ảnh người Phụ Nữ đây sẽ được áp dụng cho Đức Ma-ri-a cũng như cho Hội Thánh, bởi lẽ cả hai đều đã bước vào một hôn ước thần nhiệm. Chúa Giê-su sinh làm con Đức Ma-ri-a ; và Hội Thánh là mẹ tất cả những người đã được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần ; do đó họ trở thành chi thể của Thân Thể Chúa Ki-tô, nhiệm thể này dần dần lớn lên và vươn tới tất cả mọi người.
The Woman is humankind, giving birth to the Savior, to its Savior, and made fruitful through the grace of God (Is 45:8). Revelation 12 will also speak of the Woman. This figure refers to Mary as well as to the Church since both Mary and the Church have entered into the divine marriage: Jesus was born of Mary. In its turn, the Church is the mother of all those who are born of water and of the Spirit, and who become members of the Body of Christ, which gradually extends to all people.
Khi tạc hình Đức Ma-ri-a đạp đầu con rắn, các nghệ nhân còn nói lên thêm một ý nghĩa nữa. Từ những thế kỷ đầu tiên, Giáo Hội đã tin rằng Đức Ma-ri-a được Thiên Chúa gìn giữ khỏi vết tội đã ghi dấu ấn trên nhân loại. Thiên Chúa đã không muốn Mẹ phải kinh qua cái thân phận con người tự do nhưng lại là nạn nhân của tội lỗi nhân loại (nghĩa là hễ muốn tỏ ra mình tự do thì phải làm việc sai quấy có hại cho chính mình). Vì thế, ngay từ giây phút đầu đời, Mẹ đã được Thiên Chúa ban ân sủng ở mức tối đa, sung mãn (“đầy ơn phước”), và suốt đời Mẹ đã sống trọn vẹn tinh thần con thảo đối với Thiên Chúa. Sự biệt đãi, đặc ân mà Thiên Chúa ban cho Mẹ đây, được gọi là ơn “chẳng hề mắc tội tổ tông” hay là “vô nhiễm nguyên tội”.
In art Mary is represented as crushing the head of the serpent to express that God preserved her from the evil affecting our race. Even more: in her case, God did not want the lapse of time when human freedom is blind between the first instant of her conception and the first manifestation of God the Father. So, from the beginning he prepared her with the fullness of his grace so that her entire life would be established and develop in a perfect filial spirit. This privilege of Mary is what we call her Immaculate Conception.
Đức Ma-ri-a là thụ tạo hoàn hảo, không thể tách rời khỏi Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng “sinh làm con một người phụ nữ”. Thiên Chúa đã đặt Mẹ giữa đám tội nhân để Mẹ phù trì nâng đỡ họ. Người phụ nữ (Ga 2,4 ; 19,26) là khuôn mẫu tất cả những ai sẽ lãnh nhận ơn cứu độ ; Đức Ma-ri-a là E-và mới.
Mary is the perfect creature, inseparable from the Son of the Woman, Jesus Christ. God placed her amidst a multitude of sinners whom she was to help. A Woman (Jn 2:4; 19:26) is the model of all those who would be saved. Mary is the new Eve and the Mother of the disciples of Jesus (Jn 19:26).